TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG Bản án số: 59/HS-ST Ngày 06 tháng 11 năm 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Hậu và ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
- Đỗ Huỳnh N (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 9 năm 2006; Giới tính: nam. Nơi sinh: thành phố L (nay là phường L), tỉnh An Giang; Nơi cư trú: số E, khóm T, phường M, thành phố L (nay thuộc phường L), tỉnh An Giang; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Công nhân. Họ tên cha: không rõ; họ tên mẹ Đỗ Thị C, sinh năm 1985 (đã chết). Bị cáo là con duy nhất và chưa có vợ con. Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20 tháng 5 năm 2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Phước Bảo E (tên gọi khác: không), sinh ngày 15 tháng 3 năm 2006; Giới tính: Nam. Nơi sinh: thành phố L (nay là phường L), tỉnh An Giang; Nơi cư trú: số E, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L (nay thuộc phường L), tỉnh An Giang; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Công nhân. Con của ông Nguyễn Phước V, sinh năm 1975 và bà Đoàn Thị Thùy D sinh năm 1983. Bị cáo có 06 anh em, bị cáo thứ ba. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: không; Tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20 tháng 5 năm 2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo N, bị cáo E: Bà Văng Thị V1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh A (có mặt).
- Bị hại: Công ty Cổ phần T1 (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T – Tổng Giám đốc Công ty.
Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Toà nhà MWG, Lô T, Đường D, Khu C, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 30 tháng 12 năm 2024, Đỗ Huỳnh N và Nguyễn Phước Bảo E bàn bạc với nhau về việc trộm cắp tài sản tại 02 cửa hàng của Công ty Cổ phần T1 thuộc khóm M và khóm T, phường M, thành phố L (nay là phường L), tỉnh An Giang, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 20 tháng 12 năm 2024, N điều khiển xe mô tô biển số 67F9-1845 chở Bảo E đến Cửa hành B, thuộc khóm M, phường L. Tại đây, N lấy trộm 02 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, 01 chai kem xã serum hiệu Dove, 01 dây dầu gội Dove loại 10 gói nhỏ, Bảo E lấy 02 túi cà phê Việt loại 35 gói nhỏ, 01 chai tương ớt Cholimex.
Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2024, N tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 67F9-1845 chở Bảo E đến Cửa hành B, thuộc khóm M, phường L, lấy trộm tài sản. N lấy 02 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, Bảo E lấy 02 túi cà phê Việt loại 35 gói nhỏ.
Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 24 tháng 12 năm 2024, N tiếp tục điều khiển khiển xe mô tô biển số 67F9-1845 chở Bảo E đến Cửa hàng B, thuộc khóm M, phường L để Bảo Em lấy trộm 02 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, đưa cho N để vào balo rời khỏi cửa hàng.
Lần thứ 4: Khoảng 09 giờ ngày 30 phút ngày 28 tháng 12 năm 2024, Bảo E điều khiển xe mô tô biển số biển số 67F9-1845 chở N đến Cửa hàng B, thuộc khóm T, phường L, lấy trộm 05 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, 05 túi bột ngọt hiệu Aji-No-Moto loại 01 ký.
Lần thứ 5: Khoảng 18 giờ ngày 28 tháng 12 năm 2024, Bảo E và N tiếp tục đến Cửa hàng B, thuộc khóm M, phường L, lấy trộm 05 túi cà phê Phố loại 30 gói nhỏ, 01 túi cà phê Việt loại cà phê sữa bên trong có 46 gói nhỏ.
Khoảng 19 giờ ngày 30 tháng 12 năm 2024, Nam cùng Bảo E đến Cửa hành B, thuộc khóm M, phường M để tìm tài sản lấy trộm. Tuy nhiên, do thấy có nhiều nhân viên của cửa hàng quan sát nên N và Bảo E mua bánh và nước. Lúc này, nhân viên cửa hàng xem lại camera, phát hiện N và Bảo E đã nhiều lần đến cửa hàng lấy trộm tài sản nên trình báo Công an phường M. Tại Công an phường, cả hai đầu thú thừa nhận hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản như trên.
Vật chứng và tài sản thu giữ:
Thu giữ của Đỗ Huỳnh N: 01 xe mô tô biển số 67F9 – 1845, 02 túi cà phê Phố loại 30 gói nhỏ; 01 chai kem xã serum nhãn hiệu Dove; 01 dây dầu gội Dove loại 10 gói nhỏ.
Thu giữ của Nguyễn Phước Bảo E: 01 túi CAFÉ VIỆT loại 35 gói nhỏ.
Thu giữ tại khu đất trống, nơi cất giấu tài sản, thuộc tổ A, khóm Đ, phường M, thành phố L (nay là phường L), tỉnh An Giang: 13 túi cà phê Việt loại 35 gói nhỏ; 03 túi cà phê Phố loại 30 gói nhỏ; 05 túi bột ngọt nhãn hiệu Aji-N-Moto loại 01kg.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 05 túi cà phê Phố loại 30 gói nhỏ, 01 chai kem xã serum nhãn hiệu Dove; 01 dây dầu gội Dove loại 10 gói nhỏ, 14 túi cà phê Việt loại 35 gói nhỏ, 05 túi bột ngọt nhãn hiệu Aji-N-Moto loại 01kg cho bị hại.
* Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L xác định:
- - Lần 01:
- + Tài sản thu hồi được 04 gói cà phê hòa tan đen đá vị mạnh đặc trưng, hiệu Nescafe (Ca fé V3), khối lượng tịnh 560g (loại 35 gói x 16g), hạn sử dụng 22/07/2025, trị giá 568.000 đồng. 01 tuýp kem xả Serum phục hồi hư tổn, hiệu Dove, khối lượng tịnh 320g, trị giá: 105.000 đồng. 01 dây dầu gội phục hồi hư tổn, hiệu Dove, khối lượng tịnh 6g (loại 1 dây/10 bịch), trị giá 18.900 đồng.
- + Tài sản chưa thu hồi được: 01 chai tương Ớt Cholimex, khối lượng tịnh 270g, trị giá 12.400 đồng.
- - Lần 4:
- + Tài sản thu hồi được 04 gói cà phê hòa tan đen đá vị mạnh đặc trưng, hiệu Nescafe (Café Việt khối lượng tịnh 560g (loại 35 gói x 16g), hạn sử dụng 19/08/2025, trị giá 568.000 đồng; 05 bọc bột ngọt, hiệu Aji-No-M, khối lượng tịnh 1Kg/bọc, hạn sử dụng 25/8/2027, trị giá: 360.000 đồng;
- + Tài sản chưa thu hồi được: 01 gói cà phê hòa tan đen đá vị mạnh đặc trưng, hiệu Nescafe (Ca fé V3 khối lượng tịnh 560g (loại 35 gói x 16g), hạn sử dụng 19/08/2025, trị giá: 142.000 đồng.
- - Lần 5:
- + Tài sản thu hồi được 05 gói cà phê hòa tan sữa đá vui như phố, hiệu Cà phê Phố, khối lượng tịnh 720g (loại 30 gói x 24g), hạn sử dụng 04/09/2026, trị giá: 855.000 đồng.
- + Tài sản chưa thu hồi được 01 gói cà phê sữa đậm vị, hiệu Nescafe (C1 khối lượng tịnh 782g (loại 46 gói x 17g), trị giá: 151.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 3.632.300 đồng.
* Kết luận số 46/KLGĐĐT – TTPYCT ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc giám định độ tuổi trên cơ thể người sống đối với Đỗ Huỳnh N, sinh năm 2006 thể hiện, Đỗ Huỳnh N có độ tuổi từ 17 năm 9 tháng đến 18 tuổi 3 tháng (tại thời điểm giám định ngày 18/4/2025).
* Kết luận giám định số 47/KLGĐĐT – TTPYCT ngày 25 tháng 4 năm 2025 về việc giám định độ tuổi trên cơ thể người sống đối với Nguyễn Phước Bảo E, sinh năm 2006 thể hiện, Nguyễn Phước Bảo E có độ tuổi từ 17 năm 9 tháng đến 18 tuổi 3 tháng (tại thời điểm giám định ngày 21/4/2025).
* Kết luận giám định số 588/KL-KTHS ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Phòng KCông an tỉnh A Xe mô tô biển số 67F9-1845, số khung “WC120-----------3” số máy không đổi “LC1P52FMI✩0590592✩”, tại thời điểm giám định bề mặt kim loại tại vị trí đóng số khung phát hiện dấu vết hoen gỉ (kí tự: “-------” là các chữ số không đọc được) và bề mặt kim loại tại vị trí đóng số máy không phát hiện dấu vết đục sửa, cắt hàn, tẩy xóa, hoen gỉ.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSKV9 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Huỳnh N và Nguyễn Phước Bảo E về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên: đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Huỳnh N, Nguyễn Phước Bảo E mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung. Đề nghị tịch thu sung công quỹ đối với 01 chiếc xe gắn máy đã qua sử dụng biển số 67F9-1845.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên về quan điểm truy tố, không tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử có quan tâm, xem xét cho các bị cáo do các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, nghỉ học từ nhỏ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế và hậu quả gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, khi phạm tội, các bị cáo chưa thành niên, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Xét thấy, theo kết luận giám định xương trên cơ thể sống thể hiện, tại thời điểm các bị cáo phạm tội có độ tuổi từ 17 tuổi 09 tháng đến 18 tuổi 03 tháng. Tuy nhiên, đến nay, các bị cáo đều đã đủ 18 tuổi là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không triệu tập người đại diện theo pháp luật của các bị cáo để tham gia phiên tòa.
[1.3] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Công ty Cổ phần T1 là người bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, người đại diện hợp pháp của bị hại đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, đã thu hồi được một phần tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Ngoài ra, tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thành Đ vắng mặt. Trong quá trình điều tra, ông Đ cũng đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án, nên việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình, đã lợi dụng sự mất cảnh giác của các nhân viên tại Cửa hàng B trên địa bàn thuộc khóm M và khóm T, phường L để lấy trộm tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ, ngày 20 tháng 12 năm 2024, N điều khiển xe mô tô 67F9-1845 chở Bảo E đến Cửa hành B, thuộc khóm M, phường L. Tại đây, N lấy trộm 02 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, 01 chai kem xã serum hiệu Dove, 01 dây dầu gội Dove loại 10 gói nhỏ, Bảo E lấy 02 túi cà phê Việt loại 35 gói nhỏ, 01 chai tương ớt Cholimex. Tổng giá trị tài sản là 704.300 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ, ngày 22 tháng 12 năm 2024, Nam tiếp tục điều khiển xe mô tô 67F9-1845 chở Bảo E đến Cửa hành B, thuộc khóm M, phường L, lấy trộm tài sản. Tại đây, N lấy 02 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, Bảo E lấy 02 túi cà phê Việt loại 35 gói nhỏ. Tổng giá trị tài sản là 568.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ, ngày 24 tháng 12 năm 2024, N tiếp tục điều khiển khiển xe mô tô biển số 67F9-1845 chở Bảo E đến Cửa hàng B, khóm M, phường L để Bảo Em lấy trộm 02 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, đưa cho N để vào balo. Tổng giá trị tài sản là 284.000 đồng.
Lần thứ 4: Khoảng 09 giờ ngày 30 phút, ngày 28 tháng 12 năm 2024, Bảo E điều khiển xe mô tô biển số biển số 67F9-1845 chở N đến Cửa hàng B, khóm T, phường L, lấy trộm 05 túi cà phê V2 loại 35 gói nhỏ, 05 túi bột ngọt hiệu Aji-No-Moto loại 01 ký. Tổng giá trị tài sản là 1.070.000 đồng.
Lần thứ 5: Cùng ngày 28 tháng 12 năm 2024, vào khoảng 18 giờ, Bảo E và N tiếp tục đến cửa hàng B, khóm M, phường L, lấy trộm 05 túi cà phê Phố loại 30 gói nhỏ, 01 túi cà phê Việt loại cà phê sữa bên trong có 46 gói nhỏ. Tổng giá trị tài sản là 1.006.000 đồng.
Như vậy, trong ngày 28 tháng 12 năm 2025, Bảo E và N đã lấy trộm tài sản của Công ty Cổ phần T1 với giá trị là 2.076.000 đồng.
[2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án. Do đó, căn cứ vào các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận các hành vi trên của bị cáo Đỗ Huỳnh N và bị cáo Nguyễn Phước Bảo E đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, có khung hình phạt từ 06 tháng cho đến 03 năm tù.
[3] Xét về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:
[3.1] Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nhưng các bị cáo đều nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi lén lút, trộm cắp tài sản nhiều lần. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cân nhắc hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Xử lý vật chứng: Theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 16/6/2025 của Phòng C2 Công an tỉnh A thể hiện, xe mô tô biển số 67F9 – 1845 có số khung là MX110A00000968 và số máy là LC152FMHY0578049. Tuy nhiên, theo Kết luận giám định số 588/LK-KTHS ngày 15/9/2025 thể hiện, không thể xác định được số khung của xe mô tô mang biển số 67F9 – 1845 do có dấu vết hoen rỉ; số máy được xác định là LC1P52FMI✩0590592✩. Từ đó cho thấy, xe mô tô gắn biển số 67F9 – 1845 bị đục sửa số khung, không được lưu thông nên cần tịch thu sung công quỹ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Bảo E thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Huỳnh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước Bảo E phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt:
Bị cáo Đỗ Huỳnh N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (06 tháng 11 năm 2025). Giao bị cáo Đỗ Huỳnh N cho Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Đỗ Huỳnh N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Đỗ Huỳnh N. Trường hợp bị cáo Đỗ Huỳnh N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.
Bị cáo Nguyễn Phước Bảo E 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (06 tháng 11 năm 2025). Giao bị cáo Nguyễn Phước Bảo E cho Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Phước Bảo E có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Phước Bảo E. Trường hợp bị cáo Nguyễn Phước Bảo E thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Huỳnh N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Phước Bảo E được miễn án phí.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 và 47 Bộ Luật hình sự năm 2015. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô mang biển số 67F9 - 1845. Vật chứng trên đang được Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - An Giang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/11/2025.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 59/HS-ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 59/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm nhiều lần tại cửa hàng BHX
