Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Duy Tuấn và bà Lê Thị Dệt
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thế H, sinh ngày 28/3/1980 tại huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thế T và bà Nguyễn Thị Đ; gia đình có bốn anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị N, và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án: Không.

Tiền sự: năm 2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Sapa, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/4/2014 đến ngày 27/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

2.2. Người làm chứng:

  • - Nguyễn Nho N1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, Thanh Hóa
  • - Bùi Hữu K, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa
  • - Đồng Huy T1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa
  • - Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
  • - Ông Phạm Hồng T2, sinh năm 1965 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 21/4/2024, Tổ công tác thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N phối hợp với Công an xã T, huyện N tuần tra kiểm soát tại khu vực thôn Q, xã T phát hiện Nguyễn Nho N1, sinh năm 1991 ở thôn L, xã T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thì phát hiện và thu giữ trên người Nguyễn Nho N1 01 gói nhỏ được bọc bằng giấy ô ly có dòng kẻ bên trong chứa các cục vụn màu trắng mịn. N1 khai đó là H1 mua của một người tên là H ở thôn Đ, xã T, huyện N. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc và niêm phong số ma tuý trên ký hiệu (MVV).

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của mình là vi phạm pháp luật, Phạm Thế H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động màu đen, bàn phiếm cứng, nhãn hiệu Mobell màu đỏ, có số sim 0376.944.435 và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thế H, phát hiện thu giữ 01 tờ giấy ô ly đã bị cắt một góc, màu trắng vàng, đã qua sử dụng, 01 lưỡi dao không có cán đã qua sử dụng (H dùng để cắt và gói H1), 01 xilanh (kim tiêm y tế) dung tích 03cc, bên trong có bám dính chất lỏng màu trắng theo H khai chất lỏng bên trong xi lanh là nước cất pha với ma tuý H đã sử dụng còn lại một ít và 1.000.000đ (Một triệu đồng). Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành thu giữ và niêm phong số vật chứng trên ký hiệu (M).

Về nguồn gốc ma túy: Phạm Thế H khai trước khi bị bắt khoảng 07 ngày, bị cáo làm ăn và sinh sống ở thị xã S, tỉnh Lào Cai và mua của một người đàn ông không quen với giá 2.000.000đ, sau đó bị cáo mang về quê vợ thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với mục đích sử dụng và cắt nhỏ để bán cho người nghiện kiếm lời.

Vào ngày 21/4/2024, Nguyễn Nho N1, được bạn bè xã hội giới thiệu có một người tên H ở tỉnh khác hiện đang ở thôn Đ, xã T có ma tuý để bán nên N1 đã liên hệ với người tên H để hỏi mua ma tuý thì được H đồng ý. Việc mua bán thể hiện qua các lần như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 21/4/2024, Nguyễn Nho N1 dùng số điện thoại 0867.158.xxx của mình gọi vào số 0376.944.435 của Phạm Thế H để hỏi mua ma tuý loại Heroin với giá 500.000đ thì được H đồng ý và hẹn N1 đến cánh đồng thuộc thôn Đ, xã T để giao dịch mua bán ma tuý. Trên đường đi N1 có gặp Đồng Huy T1, sinh năm 1990 ở xã T, N rủ đi chơi thì T1 đồng ý (N1 không nói cho T1 biết đi đâu và làm gì). Khi N1 chở T1 đến gần điểm hẹn thì N1 để T1 xuống xe và đi thêm một đoạn nữa thì gặp H. Tại đây như đã hẹn N1 đưa cho H 500.000đ, H đưa cho N1 01 gói ma tuý, loại Heroin, khi mua bán xong thì H đi về nhà mẹ vợ ở thôn Đ, xã T còn N1 quay lại chở T1 về nhà sau đó N1 mang số ma tuý vừa mua được ra cánh đồng sử dụng một mình hết.

Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21/4/2024 N1 lại sử dụng số điện thoại 0867.158.xxx gọi vào số 0376.944.435 cho Phạm Thế H để hỏi mua 01 gói ma tuý loại Heroin với giá 500.000đ thì H đồng ý bán và hẹn N1 đến khu vực gần đường tàu thuộc thôn N, xã T để giao dịch mua bán ma tuý, trên đường đi thì N1 đến nhà đón T1 cùng đi chơi và cũng không nói là đi đâu và làm gì, khi N1 đi đến gần điểm hẹn thì bảo T1 xuống xe và đi thêm một đoạn nữa thì gặp H, gặp nhau N1 đưa cho H 500.000đ, H đưa lại cho N1 01 gói ma tuý loại Heroin, khi mua được ma tuý N1 quay lại đón T1 đi chơi và uống nước sau đó đưa T1 về nhà, còn N1 đi ra cánh đồng gần đó sử dụng hết số ma tuý vừa mua của H.

Lần thứ ba: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/4/2024, N1 tiếp tục liên lạc với Phạm Thế H để hỏi mua 01 gói ma tuý với giá 500.000đ thì được H đồng ý (hình thức giao dịch, địa điểm mua bán như lần thứ nhất), trên đường đi đến điểm hẹn N1 gặp Đồng Huy T1 đang đi bộ tại ngã tư đường N - S giáp với tỉnh lộ nối xã T với xã T, huyện N nên N1 rủ T1 đi chơi, (T1 không biết việc N1 đi mua ma tuý), sau đó N1 chở T1 đến địa điểm giống như lần thứ nhất để gặp H, lúc này T1 vẫn ngồi ở phía sau xe, gặp nhau N1 đưa cho H 500.000₫ H đưa cho N1 01 gói ma tuý loại Heroin. Mua được ma tuý N1 chở T1 đi đến gần Ủy ban nhân dân xã T, huyện N thì bị Tổ công tác Công an huyện N kiểm tra phát hiện thu giữ trên người Nguyện 01 gói ma tuý đã mua của Phạm Thế H trước đó.

Ngày 23/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy đã được thu giữ. Ngày 26/4/2024, Phòng K1 Công an tỉnh T bản kết luận giám định số: 1726/KL-KTHS, kết luận:

  • - Chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu MVV gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,029g (Không phẩy không hai chín gam), loại Heroin.
  • - Tìm thấy chất ma tuý loại Heroin, bên trong chất lỏng chứa trong xi lanh loại dung tích 03cc của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định.
  • Tìm thấy chất ma tuý loại Heroin bám dính trên lưỡi dao của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định.
  • Không tìm thấy chất ma tuý trên tờ giấy của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định.

Ngày 20/6/2024, Phòng K1 Công an tỉnh T có công văn phúc đáp số 336/PC09 với nội dung.

Chất lỏng chứa trong xilanh dung tích 03cc niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi giám định do lượng chất lỏng trong xilanh ít (dạng vết bám dính trên bề mặt trong của xilanh, vì vậy chỉ đủ để giám định định tính chất ma tuý. Không đủ điều kiện xác định hàm lượng chất ma tuý và thể tích chất lỏng trong xilanh.

Đối với chiếc điện thoại mà Nguyễn Nho N1 dùng để liên lạc với Phạm Thế H hỏi mua ma tuý N1 đã ném xuống mương nước trước khi bị Tổ công tác dừng lại để kiểm tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy.

Đối với Nguyễn Nho N1 có hành vi tàng trữ 0,029g ma túy loại Heroin không đủ định lượng để xử lý về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

* Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do phòng K1 Công an tỉnh T phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T3, Lê Công A, Trần Thị Thúy H2 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; 01 điện thoại di động và 1.000.000đ liên quan đến việc mua bán ma túy. Số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống chờ xử lý.

* Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phạm Như H3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Đề nghị hình phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ nộp vào ngân sách Nhà nước; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 1.000.0000đ và 01 điện thoại di động; tịch thu tiêu hũy toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; truy thu 500.000đ từ bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo nhận tội, không có tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo như sau:

Hành vi thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 21/4/2024, tại cánh đồng thuộc khu vực thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Phạm Thế H có hành vi bán cho Nguyễn Nho N1, sinh năm 1991 nơi cư trú thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 01 gói ma tuý, loại Heroin lấy 500.000đ. Số ma túy này N1 đã sử dụng hết.

Hành vi thứ hai: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21/4/2024 tại khu vực gần đường tàu thuộc thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Phạm Thế H có hành vi bán cho Nguyễn Nho N1, sinh năm 1991 nơi cư trú thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 01 gói ma tuý, loại Heroin lấy 500.000đ. Số ma túy này N1 đã sử dụng hết.

Hành vi thứ ba: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/4/2024, tại cánh đồng thuộc khu vực thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Phạm Thế H có hành vi bán cho Nguyễn Nho N1, sinh năm 1991 nơi cư trú thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 01 gói ma tuý, loại Heroin có khối lượng 0,029g lấy 500.000đ. Số ma túy này đã bị thu giữ và đã được giám định theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi mua bán trái phép số ma túy là để sử dụng và san thành gói nhỏ để bán cho người nghiện ma túy kiếm lời.

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người không quen biết ở thị xã S với số tiền là 2.000.000đ. Hiện bị cáo không xác định được người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại CQĐT, lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp với vật chứng thu giữ đã được giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX Tòa án nhân dân huyện Nông Cống có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thế H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Như vậy, cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như sau: Ma túy có đặc tính gây nghiện, gây ảo giác cho người sử dụng, con người khi mắc nghiện là bị lệ thuộc vào ma túy. Ma túy là đối tượng gây ra tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Việc sử dụng ma túy tùy tiện sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Vì vậy, Nhà nước quản lý ma túy nghiêm ngặt chủ yếu sử dụng trong lĩnh vực y tế, không cho phép lưu thông tự do. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và việc sử dụng ma túy tùy tiện sẽ gây hậu quả xấu cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán ma túy nhằm kiếm lời, gây hậu quả xấu cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử nghiêm loại tội phạm này để ổn định trật tự xã hội góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, an toàn.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú các tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Về nhân thân bị cáo nghiện ma túy là người có nhân thân xấu.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, HĐXX, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian với điều kiện giáo dục, lao động, cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với Điều 38 BLHS. Thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma túy vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 1.000.000₫ và 01 điện thoại di động là công cụ phạm tội.

[7] Áp dụng biện pháp tư pháp khác: Truy thu từ bị cáo số tiền 500.do mua bán ma túy mà có nộp vào ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo có tội, bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS: Tuyên bố bị cáo Phạm Thế H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 2; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Phạm Thế H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 21/4/2024). Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; tịnh thu nộp ngân sách Nhà nước 1.000.000đ và 01 điện thoại di động, đặc điểm vật chứng (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống).

Áp dụng biện pháp tư pháp khác: Truy thu của bị cáo Phạm Thế H 500.000đ nộp vào ngân sách Nhà nước.

Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS. H. Nông Cống;
  • - Công an huyện Nông Cống;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu VT; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thế H - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger