Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Văn Quảng;

Bà Phan Thị Hạnh Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hạnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Nhà văn hóa tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2025/TLST - HS, ngày 29 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST - HS, ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với, bị cáo:

Đỗ Thành L

- sinh ngày 07/7/1999, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Đỗ Mạnh N và bà Trần Thị H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/ 2025 đến ngày 17/3/2025 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.(Trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến:

- Anh Phạm Ngọc D - sinh năm 1985(Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Ông Phạm Văn T - sinh năm 1960(Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 11/3/2025 bị cáo Đỗ Thành L đi nhờ xe của một người đàn ông, L không quen biết đến khu vực bến xe huyện T, tỉnh Thái Bình để tìm mua ma tuý. Tại đây L gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, L không biết tên, tuổi, địa chỉ người này ở đâu. Vì nhìn người này giống người nghiện ma tuý và nghi ngờ có ma tuý để bán nên L lại và hỏi mua 500.000đ tiền ma tuý đá thì người này đồng ý bán cho L. L đưa cho người này 500.000đ, nhận tiền L đưa người này đưa lại cho L 01 túi nilon trong suốt có mép cài, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt. Biết đó là ma tuý loại đá nên L nhận lấy và cất vào túi quần bên phải phía trước L đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày L đi bộ từ nhà đi tìm nơi để sử dụng ma tuý. Khi L đi đến khu vực đường T thuộc thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã mời bị cáo và người chứng kiến về UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình làm việc, tại đây L đã tự giác giao nộp 01 túi nilon trong suốt có mép cài bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt từ túi quần bên phải phía trước L đang mặc và khai nhận đây là ma tuý L mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý, niêm phong số ma túy nêu trên. Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo L nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 235/KL - KTHS ngày 17/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1968g.

Bản cáo trạng số 55/CT - VKSTH ngày 27/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đỗ Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Thành L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo.

Bị cáo, không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai trái vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để yên tâm cải tạo sớm về hoà nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng. Bị cáo khai: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 11/3/2025, tại khu vực đường tỉnh lộ 465 thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang bị cáo Đỗ Thành L có hành vi tàng trữ 01 gói ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1968 gam trong túi quần bên phải phía trước đang mặc, với mục đích để sử dụng cho bản thân.

  3. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố và hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập ngày 11/3/2025; Biên bản khám xét chỗ ở của Đỗ Thành L tại thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an tỉnh T lập ngày 11/3/2025; Bản kết luận giám định số: 235/KL-KTHS ngày 17/3/2025 của phòng K Công an tỉnh T; Lời khai của những người chứng kiến ông Phạm Văn T, anh Phạm Ngọc D.

  4. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; việc sử dụng ma túy gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sử dụng, làm cho người sử dụng bị lệ thuộc vào chất ma túy, dẫn đến suy kiệt kinh tế gia đình. Việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh các tai tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp giật, ... đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội thế kỷ như HIV/AIDS. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi hình sự. Mặc dù nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích thoả mãn cơn nghiện, bị cáo đã cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho bản thân, xã hội.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    • Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

    • Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

  2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

  1. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị kết án, xử phạt hành chính.

  2. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, cộng đồng và xã hội nhưng vẫn sử dụng ma túy vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như góp phần chung vào công tác răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy. Do bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định và tàng trữ ma tuý để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Trong vụ án này còn có: 01 người nam giới đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực bến xe thị trấn T, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra, xác minh làm rõ người bán ma túy cho bị cáo để xử lý theo pháp luật.

  4. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1414g Methamphetamine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 235/KL - KTHS. Đây là chất gây nghiện nhà nước cấm lưu hành cùng bao gói liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Đỗ Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2025.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1414g Methamphetamine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 235/KL-KTHS.

    (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2025)

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Đỗ Thành L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

*Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - THA Dân sự huyện Tiền Hải;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thành L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger