Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HSST

Ngày: 03/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thế và bà Lê Thị Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 03/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 19/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 22/5/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm: 1977; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Trần Công K (Đã chết); Con bà: Ngô Thị T1 (đã chết); Anh chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là thứ 8; Vợ: Đào Thị Thu T2, sinh năm 1985; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/3/2025 đến ngày 09/4/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Lại Thị L, sinh năm 1977 (đã chết)

- Đại diện bị hại là chị Tạ Thị L1, sinh năm 2006 và anh Lê Công C, sinh năm 2000. Đều Trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH B - ông Đào Trọng Chiêu S năm 1971 là Giám đốc.

Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Minh S1, sinh năm 1984.

Trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa: Chị L1, anh C và ông S1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 31/3/2025 Trần Văn T (có giấy phép lái xe ô tô số [...] hạng A1, C) là lái xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B địa chỉ tại thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên điều khiển xe ô tô biển số 89C-048.80 đi đổ bê tông tươi tại nhà dân ở xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Sau khi đổ bê tông xong, T điều khiển xe ô tô trên đi trên đường quốc lộ 39A theo hướng huyện Y, tỉnh Hưng Yên về huyện K, tỉnh Hưng Yên để đi về công ty. Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên, T có cuộc điện thoại nên T bật xi nhan bên phải (bên phải người điều khiển) và điều khiển xe ô tô vào sát mép đường phải theo hướng đi tạm dừng xe để nghe điện thoại. Nghe điện thoại khoảng 30 giây sau T lại tiếp tục điều khiển xe ô tô đi. Lúc này, do không chú ý quan sát phía trước, phía sau hai bên xe, không chú ý giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước nên khi đi được khoảng 03m thì đầu xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào phía sau xe đạp của bà Lại Thị L đi ở phía trước cùng chiều làm xe đạp bị đổ, bánh xe bên phải của xe ô tô đè vào người bà L làm bà L tử vong tại hiện trường.

Ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, quan sát thấy bà L đã chết tại chỗ nên T để lại phương tiện tại hiện trường rồi đến Công an xã Đ đầu thú, khai báo hành vi vi phạm của mình.

Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xe ô tô 89C-048.80 và 01 xe đạp; khám nghiệm tử thi Lại Thị L.

Khám nghiệm hiện trường xác định:

+ Hiện trường là đoạn đường thẳng tại K+50 Quốc lộ C thuộc địa phận thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Các hướng tiếp giáp được xác định như sau: Hướng N là Quốc lộ C hướng đi thành phố H, hướng Bắc là hướng Quốc lộ C hướng đi Phố N, hướng Đông và hướng Tây tiếp giáp nhà dân; Quốc lộ C có mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 11m, có vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn phân chia làm hai chiều đường đi, mỗi bên rộng 5,5m.

+ Đánh số thứ tự: Số (1) là xe ô tô biển số 89C-048.80; số (2) là vết phanh hằn đen; số (3) là đám cà xước mặt đường; số (4) là tử thi; số (5) là xe đạp;

+ Chọn cột Km 13-QL39 làm điểm mốc cố định. Chọn mép đường bên phải theo hướng từ Phố N đi thành phố H làm mép đường chuẩn;

+ Đo từ điểm mốc cố định (K-Q) chếch trái dọc theo đường chuẩn về hướng thành phố H 54m là tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô biển số 89C-048.80. Ký hiệu (1) là xe ô tô biển số 89C-048.80, xe ô tô ở trạng thái tĩnh, đầu xe hướng về thành phố H, đuôi hướng về Phố N; Đo từ tâm trục bánh sau bên phải và tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô biển số 89C-048.80 lần lượt vào mép đường chuẩn là 0,6m và 0,9m. Đo từ tâm trục bánh sau bên phải dọc về hướng thành phố H 0,5m là tâm vết phanh hằn đen trên mặt đường ký hiệu (2), vết phanh có chiều phát triển từ Phố N đi thành phố H KT (0,75x0,5)m. Đo từ đầu và cuối vết số (2) vào mép đường chuẩn lần lượt là 01m và 01m. Đo từ tâm trục sau bên phải (1) sang chếch hướng tây 0,37m là đầu tâm vết cà xước mặt đường ký hiệu (3), chiều phát triển từ Phố N về thành phố H KT (1,1x0,5)m. Đo từ đầu và cuối vết số (3) vào mép đường phải lần lượt là 0,35m và 0,22m; Đo từ tâm trục sau bên phải (1) sang gót chân phải tử thi là 02m. Ký hiệu (4) tử thi nằm ngửa đầu hướng về thành phố H chân hướng về Phố Nối, đo từ gót chân bên phải tử thi vào mép đường chuẩn là 0,25m, đầu tử thi nằm trên mép đường chuẩn. Đo từ tâm trục bánh (1) sang tâm trục bánh sau xe đạp là 1,55m. Ký hiệu (5) xe đạp ở trạng thái đứng dựng chân chống phía sau, đầu xe đạp chếch phải hướng về thành phố H, đuôi xe đạp hướng về Phố Nối, đo từ trục sau và trục trước xe đạp lần lượt vào mép đường chuẩn là 0,7m và 1,2m. Ngoài những dấu vết, phương tiện đã được mô tả nêu trên, không phát hiện dấu vết, phương tiện nào khác.

- Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 89C-048.80, xác định:

Xe ô tô mang BKS 89C-048.80 ở trạng thái tĩnh ở trên mặt đường Q. Tại phía trước ba đờ sốc bên phải có vết mài mòn sơn, sạch bụi KT (0,07x0,03)m, điểm gần nhất cách mặt đất 0,61m, điểm cao nhất cách mặt đất 0,65m.

- Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp, xác định:

Xe đạp mi ni màu nâu ở trạng thái tĩnh, dựng đứng bằng chân chống phía sau. Tại phần đuôi giá sắt chở hàng ở bên phải có vùng bám dính tạp chất màu trắng KT (0,06x0,005)m; Tại vị trí mỏm chốt sắt cuối cùng bên phải giá để hàng trên bề mặt có dính tạp chất màu trắng KT (0,005x0,005)m; Giỏ xe phía trước bên trái bị bẹp, cong vênh không rõ chiều; Đầu lõi sắt bàn đạp bên trái có vết mài mòn kim loại KT (0,01x0,01)m; mặt ngoài giá chở hàng phía sau bên trái có vùng cầy xước kim loại bám dính tạp chất màu trắng KT (0,03x0,01)m, điểm gần nhất cách mặt đất 0,68m.

- Kết quả khám nghiệm tử thi Lại Thị L, xác định:

Tử thi được xác định là bà Lại Thị L sinh năm 1977 ở thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

+ Đặc điểm trang phục và vật dụng mang theo: Nạn nhân mặc ngoài áo khoác dài tay màu đen, áo bám dính chất bẩn màu nâu, màu trắng. Mặt trước thân áo hai bên sát gấu áo, cách đường chỉ thân áo trái 10cm có đám mài rách vải xen lẫn đám chất bẩn màu nâu, màu trắng KT(40x36)cm. Mặt sau thân áo hai bên sát gấu áo, sát đường chỉ thân áo bên trái có đám mài xơ vải xen lẫn chất bẩn màu nâu KT(48x35)cm. Bục đường chỉ thân áo bên phải tại vị trí cách gấu áo 04cm, vết bục chỉ dài 43cm. Mặt sau ống tay áo bên phải cách gấu ống tay áo 20cm, cách đường chỉ trong 05cm có đám rách vải KT(10x05)cm. Mặc ngoài quần vải dài màu đen cạp chun, quần bám dính chất bẩn màu nâu. Mặt trước ống quần bên phải cách gấu ống quần 23cm, cách đường chỉ ngoài 06cm có đám rách vải KT(16x10)cm. Mặt sau ống quần bên phải cách gấu ống quần 10cm, cách đường chỉ trong 05cm có đám rách vải KT(03x03)cm;

+ Đầu, mặt: Tử thi hai mắt nhắm, kết mạc mắt hai bên nhợt, nhãn cầu hai bên không tổn thương. Ống tai ngoài bên phải không chảy máu. Hai lỗ mũi không chảy máu. Miệng ngậm, lưỡi nằm trong cung răng, hệ thống răng không tổn thương. Khoang miệng không có máu. Kiểm tra hệ thống xương hàm mặt không tổn thương;

+ Cổ: Không phát hiện tổn thương;

+ Ngực, bụng: Toàn bộ vùng ngực bụng hai bên nằm trên đường giữa, sát khớp mu có đám sây sát rách da, sưng nề bầm tím KT(42x18)cm. Chọc dò khoang ngực bên phải bằng xi lanh thấy chảy máu. Kiểm tra vùng ngực hai bên thấy gãy xương ức, gãy cung trước các xương sườn số 5,6,7,8,9 hai bên;

+ Lưng: Vùng lưng hai bên nằm trên đường giữa, sát xương mỏm cụt có đám sây sát da bầm tím, sưng nề KT(30x30)cm. Kiểm tra thấy gãy cung sau xương sườn số 5,6,7,8,9 hai bên; gãy và biến dạng xương cột sống từ đốt sống L1 đến L5;

+ Mông: Mặt ngoài mông bên phải cách mào chậu phải 10cm có đám sây sát da KT(08x06)cm. Kiểm tra khung chậu hai bên vững;

+ Hậu môn: bài tiết phân;

+ Sinh dục: Bộ phận sinh dục ngoài không tổn thương;

+ Hai tay: Đoạn 1/3 trên cánh tay phải có đám sây sát rách da sưng nề KT(20x15)cm. Kiểm tra thấy gãy đoạn 1/3 trên cánh tay phải. Mu bàn tay phải rải rác các vết sây sát da KT(06x05)cm. Vùng ô mô ngón 1 bàn tay trái có đám bầm tím KT(05x03)cm;

+ Hai chân: Đoạn 2/3 dưới đùi trái có đám sây sát da sưng nề bầm tím KT(40x25)cm. Kiểm tra thấy gãy đoạn 1/3 dưới xương đùi trái. Đoạn 2/3 trên cẳng chân trái có đám sây sát da KT(20x15)cm;

+ Mổ vùng ngực bên phải thấy tổ chức dưới da bầm tụ máu, gãy cung trước các xương sườn số 5,6,7,8,9 bên phải, khoang ngực bên phải có nhiều máu.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số: 53/KLGĐTT-PC09 ngày 02/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H xác định nguyên nhân chết của tử thi Lại Thị L sinh năm 1977 ở thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên là do “chấn thương ngực kín trên người đa chấn thương”.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành trích xuất từ camera được lắp đặt tại nhà anh Nguyễn Danh T3 ở thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên 01 file video ghi lại cảnh xảy ra vụ việc và đã niêm phong theo quy định. Ngày 04/04/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh H giám định kỹ thuật số và điện tử, xác định hình ảnh trong video gửi giám định có cắt ghép, chỉnh sửa gì không và trích xuất hình ảnh trong đoạn video.

Tại bản Kết luận giám định số 297/KL-KTHS(KTS) ngày 26/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: “Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 (một) file video gửi giám định”. Trích xuất hình ảnh trong đoạn video thời gian từ 08 giờ 04 phút 27 giây đến 08 giờ 05 phút 07 giây ngày 31/3/2025. (Có bản ảnh kèm theo).

Ngay sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã phối hợp với Phòng C2 Công an tỉnh H tiến hành làm việc với Trần Văn T để kiểm tra nồng độ cồn và chất kích thích gây nghiện. Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn T là 0,00mg/L và kết quả xét nghiệm trong máu của Trần Văn T không có chất gây nghiện.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, đại diện Công ty TNHH B là ông Bùi Minh S1 và đại điện gia đình bị cáo Trần Văn T đã thống nhất và tự nguyện đến gặp gỡ, bồi thường phần dân sự cho gia đình bà Lại Thị L với tổng số tiền là 290.000.000đ, bao gồm chi phí mai táng và chi phí sửa chữa chiếc xe đạp bị hư hỏng trong vụ tai nạn. Đại diện gia đình bà Lại Thị L đã đồng ý nhận số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì đối với nguyên nhân chết của bà Lại Thị L, không yêu cầu về bồi thường dân sự gì khác và tự nguyện có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Văn T.

Về xử lý vật chứng:

Đối với phương tiện xe ô tô 89C-048.80 xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH B có địa chỉ ở thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên do ông Đào Trọng C1 là Giám đốc; Chiếc xe đạp là tài sản hợp pháp của bà Lại Thị L nên Cơ quan điều tra đã trả lại ô tô cho Công ty và trả lại xe đạp cho đại diện gia đình bà L.

Giấy phép lái xe ô tô mang tên Trần Văn T được lưu trong hồ sơ để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.

Cáo trạng số: 60/CT-VKSKC ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số: 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Cấm bị cáo hành nghề lái xe thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cánh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, đại diện bị hại và ngưởi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Qua xem xét sự vắng mặt của họ, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ nên xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định tử thi, bên bản niêm phong đồ vật, bản ảnh giám định, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, bản ảnh kèm theo biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Lời khai của bị cáo, đại diện bị hại và người liên quan trong quá trình điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Sáng ngày 31/3/2025 Trần Văn T có giấy phép lái xe còn thời hạn và điều khiển loại xe phù hợp giấy phép lái xe đã được cấp, điều khiển xe ô tô 89C-048.80 đi trên đường Q theo hướng từ thành phố H đi huyện K. Khi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn A, xã Đ, huyện K, do không chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn giữa các xe, do thiếu quan sát nên đầu xe ô tô bên phải do T điều khiển đã đâm vào phía sau xe đạp của bà Lại Thị L đi ở phía trước cùng chiều làm bà L ngã xuống lòng đường, bà L bị bánh xe phía trước bên phải của xe ô tô đè vào người và tử vong tại hiện trường. Hành vi nêu trên của Trần Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Trần Văn T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số: 60/CT-VKSKC ngày 19/5/2025 là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn trật tự công cộng, đặc biệt trong tình hình hiện nay mức độ tham gia giao thông đông đúc và các vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày càng tăng, một bộ phận không nhỏ người tham gia giao thông còn thiếu ý tức tôn trong luật giao thông. Chính vì ý thức tham gia giao thông của bị cáo thiếu ý thức nên đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, tước đi sinh mạng của bà Lại Thị L, gây ra đau thương mất mát không gì bù đắp được cho gia đình của người bị hại. Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn gây tâm lý hoang mang cho mọi người khi tham gia giao thông, chính vì vậy cần phải xử lý thật nghiêm buộc bị cáo phải chấp hành một hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe phòng ngừa, đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, làm bài học giáo dục ý thức tôn trọng, chấp hành luật giao thông đường bộ của mọi người khi tham gia giao thông, góp phần giảm thiểu tình trạng tai nạn giao thông.

[4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

- Tiền án, tiền sự: Không

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo và bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, để xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng chống tội phạm nói chung trong toàn xã hội. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy ngoài hình phạt chính cần thiết phải buộc bị cáo chịu hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự .

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, đại diện Công ty TNHH B là ông Bùi Minh S1 và đại điện gia đình bị cáo Trần Văn T đã thống nhất và tự nguyện đến gặp gỡ, bồi thường phần dân sự cho gia đình bà Lại Thị L với tổng số tiền là 290.000.000đ, bao gồm chi phí mai táng và chi phí sửa chữa chiếc xe đạp bị hư hỏng trong vụ tai nạn. Đại diện gia đình bà Lại Thị L đã đồng ý nhận số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì đối với nguyên nhân chết của bà Lại Thị L, không yêu cầu về bồi thường dân sự gì khác và tự nguyện có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Văn T nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với phương tiện xe ô tô 89C-048.80 xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH B có địa chỉ ở thôn L, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên do ông Đào Trọng Chiêu S năm 1971 là Giám đốc; Chiếc xe đạp là tài sản hợp pháp của bà Lại Thị L nên Cơ quan điều tra đã trả lại ô tô cho Công ty và trả lại xe đạp cho đại diện gia đình bà L nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

[8]. Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  3. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 03/6/2025.
  4. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 (một) năm, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  6. Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ giấy phép lái xe hạng A1, C số [...] xe mang tên Trần Văn T trong hồ sơ vụ án trong thời gian thi hành hình phạt bổ sung.
  7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với đại diện người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

- Phòng KTNV&THA-TAND tỉnh HY.

- VKSND tỉnh Hưng Yên.

- CA tỉnh Hưng Yên.

- VKS huyện Khoái Châu.

- Chi cục THADS huyện Khoái Châu.

- UBND xã Thủ Sỹ;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HSST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 59/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 19/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 22/5/2025 đối với bị cáo:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger