TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày 15 tháng 4 năm 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Hoàng Mai - Cán bộ hưu trí và bà Phan Thị Yến - Trưởng phòng giáo dục thành phố Long Xuyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Hoàng P, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2008 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Cư trú: số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lê Thị Kim C, cha không xác định; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06 tháng 01 năm 2025 đến nay (có mặt).
2. Lê Thị Kim C, sinh ngày 19 tháng 01 năm 1981 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Cư trú: số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C1 (chết) và bà Nguyễn Thị Ú; bị cáo chung sống như vợ chồng với ông Tống Phước T và có 01 con; tiền án: không; tiền sự: ngày 10 tháng 10 năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 14 tháng, ngày 22 tháng 8 năm 2024 chấp hành xong; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25 tháng 11 năm 2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Phân Trại tam giam khu vực thành phố L - Trại giam Công an tỉnh A), (có mặt).
- Người giám hộ của bị cáo Lê Hoàng P: Bà Lê Trần Thị Phi K - Chủ tịch Hội phụ nữ phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng P: Ông Hà Quang V - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A (có mặt).
- Bị hại: Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số I đường N nối dài, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công L (theo giấy ủy quyền số 11920/GUQ-UBND, ngày 31/12/2024), (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Trần Đỗ G, ông Nguyễn Huỳnh P1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 24 tháng 11 năm 2024, Lê Hoàng P (sinh ngày 07 tháng 02 năm 2008) rủ mẹ là Lê Thị Kim C đi tìm tài sản lấy trộm thì C đồng ý. Thực hiện ý định, P lấy 01 túi xách nhựa màu xanh bên trong có kìm cộng lực, dao, kéo, dây điện và nhiều công cụ khác để lên xe mô tô biển số 67G1-001.49 rồi điều khiển xe chở C đến cầu H, phường M, thành phố L. P dựng xe mô tô 67G1-001.49 cách chân cầu khoảng 10m và bảo C đứng tại xe mô tô 67G1-001.49 cảnh giới, còn P đem túi xách màu xanh đi lên cầu H. P đeo kìm cộng lực lên cổ, rồi dùng 02 đoạn dây điện dài khoảng 10m, nhập đôi lại, buộc 01 đầu vào lan can cầu để leo xuống trụ chân cầu. Sau đó P dùng kìm cộng lực cắt 01 đoạn dây cáp điện màu đen, nhãn hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm², ruột đồng, vỏ bọc P4, dài 30m thuộc hệ thống dây dẫn điện chiếu sáng (đã ngắt điện) do Ủy ban nhân dân thành phố L quản lý. Do dây cáp điện nặng, P gọi C đến giúp kéo đoạn dây cáp điện đem đến để ở bờ kè đường B, phường M cách chân cầu H khoảng 20m. Sau đó, P điều khiển xe mô tô chở C đi tìm bao chứa dây cáp điện. Đến 03 giờ ngày 25 tháng 11 năm 2024, các ông Trần Đỗ G, Nguyễn Huỳnh P1 (thuộc lực lượng an ninh cơ sở phường M) đi tuần tra ở khu vực đường P, phường M thì phát hiện P1 và C có biểu hiện nghi vấn, nên điều khiển xe mô tô đuổi theo đến vòng xoay ngã tư đường U - N, phường M thì đuổi kịp. P1, C khai vừa lấy trộm dây cáp điện tại cầu H và còn để đoạn dây cáp điện trên bờ kè đường B, phường M nên các ông G, P1 báo Công an phường M đến lập biên bản thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ, gồm: 01 xe gắn máy biển số 67G1-001.49; 01 đoạn dây cáp điện 3 pha hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm² dài 30m; 02 đoạn dây điện nhập đôi dài 10m; 01 túi nhựa màu xanh; 01 kìm cộng lực có cán bằng nhựa màu đen cam dài 42cm; 01 cây kéo kim loại dài 20cm; 01 cây dao dài 40cm; 01 kiềm điện cán nhựa màu đỏ dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại cán nhựa màu vàng dài 20cm và 01 kéo bằng kim loại cán nhựa màu đen dài 18cm.
Kết luận định giá số 2358/KL-HĐĐTTS ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, xác định: 01 dây cáp điện màu đen, nhãn hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm², ruột đồng, vỏ bọc P4, dài 30m trị giá 3.270.000 đồng.
Cáo trạng số: 73/CT-VKSLX, ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Lê Hoàng P và Lê Thị Kim C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim C từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P từ 03 (ba) tháng đến 05 (năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Ủy ban nhân dân thành phố L không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên đề nghị không xét đến.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo P là người chưa thành niên, bị cáo C là người không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Trả lại cho Ủy ban nhân dân thành phố L 01 đoạn dây cáp điện 3 pha hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm² dài 30m.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy biển số 67G1-001.49, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy: 02 đoạn dây điện nhập đôi dài 10m; 01 túi nhựa màu xanh; 01 kìm cộng lực có cán bằng nhựa màu đen cam dài 42cm; 01 cây kéo kim loại dài 20cm; 01 cây dao dài 40cm; 01 kiềm điện cán nhựa màu đỏ dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại cán nhựa màu vàng dài 20cm và 01 kéo bằng kim loại cán nhựa màu đen dài 18cm, là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Hoàng P và Lê Thị Kim C khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung cáo trạng truy tố. Các bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải; bị cáo C xin được hưởng án treo, bị cáo P2 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Phúc trình B: Thống nhất về tội danh không tranh luận. Về tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo có nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo là người chưa thành niên; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 95; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo P3 mà không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội.
Bị hại Ủy ban nhân dân thành phố L do ông Nguyễn Công L là người đại diện theo ủy quyền trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Bị hại yêu cầu được nhận lại 01 đoạn dây cáp điện 3 pha hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm² dài 30m và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của những người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 24 tháng 11 năm 2024, P điều khiển xe mô tô biển số 67G1-001.49 chở C đến cầu H thuộc phường M, thành phố L tìm tài sản lấy trộm. Đến nơi, P dựng xe ở chân cầu cho C đứng cảnh giới, còn P leo xuống trụ chân cầu rồi lén lút dùng kìm cộng lực mang theo cắt trộm 01 đoạn dây cáp điện màu đen, nhãn hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm², ruột đồng, vỏ bọc P4, dài 30m thuộc hệ thống dây dẫn điện chiếu sáng do Ủy ban nhân dân thành phố L quản lý với giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.270.000 đồng. Hành vi của các bị cáo P và C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, các bị cáo thực hiện hành vi ngay tại chân cầu H là nơi có nhiều phương tiện và người qua lại, thể hiện các bị cáo rất manh động, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo P và C không tiền án và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng, C có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 14 tháng, ngày 22/8/2024 chấp hành xong.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Vai trò đồng phạm: Trong vụ án này các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ mà chỉ cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nên giữa các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo P là người khởi xướng và rủ bị cáo C cùng thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi dùng kìm cắt trộm đoạn dây cáp; còn bị cáo Chung với vai trò đồng phạm giúp sức, cảnh giới cho bị cáo P, lẽ ra mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo P phải cao hơn bị cáo C. Tuy nhiên, do bị cáo P là người chưa thành niên nên được áp dụng các nguyên tắc dành cho người chưa thành niên, do đó hình phạt của bị cáo P sẽ thấp hơn bị cáo C.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo P là người chưa thành niên, còn bị cáo Chung không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ủy ban nhân dân thành phố L không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[7] Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho Ủy ban nhân dân thành phố L 01 đoạn dây cáp điện 03 pha hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm² dài 30m.
Đối với, 01 xe gắn máy biển số 67G1-001.49, đây là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với, 02 đoạn dây điện nhập đôi dài 10m; 01 túi nhựa màu xanh; 01 kìm cộng lực có cán bằng nhựa màu đen cam dài 42cm; 01 cây kéo kim loại dài 20cm; 01 cây dao dài 40cm; 01 kiềm điện cán nhựa màu đỏ dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại cán nhựa màu vàng dài 20cm và 01 kéo bằng kim loại cán nhựa màu đen dài 18cm, là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng P và Lê Thị Kim C phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P 04 (bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim C 07 (bảy) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/11/2024).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Trả lại cho Ủy ban nhân dân thành phố L 01 đoạn dây cáp điện 03 pha hiệu Cadivi, loại CVV 3x25mm² dài 30m.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy biển số 67G1-001.49.
Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn dây điện nhập đôi dài 10m; 01 túi nhựa màu xanh; 01 kìm cộng lực có cán bằng nhựa màu đen cam dài 42cm; 01 cây kéo kim loại dài 20cm; 01 cây dao dài 40cm; 01 kiềm điện cán nhựa màu đỏ dài 15cm; 01 cây kéo bằng kim loại cán nhựa màu vàng dài 20cm và 01 kéo bằng kim loại cán nhựa màu đen dài 18cm (Đặc điểm tang vật theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lê Hoàng P và Lê Thị Kim C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo; \người giám hộ, người bào chữa cho bị cáo P; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Chiền |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo phạm tội
