|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 4 - 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức; Bà Diệp Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 422/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn N, sinh năm 1983
Cư trú: Số 24 đường Nguyễn Trãi, khóm Đông Sơn 1, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
- Bị đơn: Bà Lê Thị Tuyết M, sinh năm 1996
Cư trú: Số B đường N, khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang
Tại phiên tòa ông N vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, bà M vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Võ Văn N trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Văn N và bà Lê Thị Tuyết M tự nguyện quen biết, tìm hiểu và đi đến chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không còn phù hợp nên thường xuyên cự cãi, cuộc sống không còn hạnh phúc. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng không có kết quả. Đến năm 2022 thì vợ chồng ly thân. Nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông N yêu cầu được ly hôn.
- - Về con chung: Ông N xác định ông và bà M có 03 (ba) con chung là các cháu Võ Lê Ngọc Q, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2019; Võ Tấn P, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2013; Võ Tấn L, sinh ngày 15 tháng 7 năm 2018. Hiện các con đang sống với ông N, sau khi ly hôn ông N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc ba con chung. Không yêu cầu bà M cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Lê Thị Tuyết N1 trình bày theo Tờ tự khai của bà M ngày 13 tháng 11 năm 2024:
Bà N1 yêu cầu: (1) Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông N1. (2) Về quan hệ con chung: Thống nhất vợ chồng có 03 con chung như ông N1 trình bày. Hiện các con sống cùng với ông N1, sau khi ly hôn ông N1 sẽ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con chung. (3) Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa, ông N1 vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Bà N1 vắng mặt và không cung cấp thêm ý kiến, tài liệu chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Ông N1 và bà M quen biết và kết hôn có đăng ký kết hôn. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cả hai đã ly thân. Xét thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông N1 là có cơ sở để chấp nhận. Về con chung: Ông N1 và M cùng thống nhất họ có 03 con chung như trình bày; thống nhất để ông N1 tiếp tục nuôi dưỡng các con chung. Các con chung có mong muốn sống với ông N1. Do đó, đề xuất giao 03 con chung cho ông N1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Võ Văn N và bà Lê Thị Tuyết M kết hôn có đăng ký kết hôn; Ông N khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết vấn đề con chung; còn bà M là người có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
- Về thủ tục tố tụng: Ông N vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Bà M đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung tranh chấp:
- [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà M tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn. Ông N và bà M đều cho rằng vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm. Xét thấy: Để cuộc sống gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt được thì vợ chồng phải có tình cảm tự nguyện từ hai phía, tin tưởng, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, chung tay cùng nhau xây dựng tổ ấm. Nhưng hiện nay Ông N và bà M đều không thực hiện được những điều này, và không còn chung sống, đều mong muốn ly hôn. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ông N là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [3.2] Về con chung và cấp dưỡng cho con chung: Ông N và bà M đều xác định ông bà có 03 con chung là các cháu Võ Lê Ngọc Q, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2019; Võ Tấn P, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2013; Võ Tấn L, sinh ngày 15 tháng 7 năm 2018. Ông N và bà M đều thống nhất giao các con chung cho ông N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bản thân cháu L và cháu P cũng thể hiện nguyện vọng muốn được sinh sống cùng với cha. Các con chung hiện nay đều sống cùng với ông N. Vì vậy, cần ổn định việc nuôi con để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của con chung, tạo điều kiện cho cháu phát triển bình thường. Ông N không yêu cầu bà M cấp dưỡng cho con chung, nên Hội đồng xét xử chấp nhận vấn đề này.
- [3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông N và bà M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề tài sản chung và nợ chung.
- Về án phí: Ông N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 227; 228; 238; 266; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 19; 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116; 117; 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Ông Võ Văn N được ly hôn với bà Lê Thị Tuyết M.
- Về con chung:
Ông Võ Văn N và bà Lê Thị Tuyết M có 03 (ba) con chung là các cháu Võ Lê Ngọc Q, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2019; Võ Tấn L, sinh ngày 15 tháng 7 năm 2018; Võ Tấn P, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2013.
Ông Võ Văn N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom, giáo dục các cháu Võ Lê Ngọc Q, Võ Tấn L, Võ Tấn P. Ông Võ Văn N và thành viên gia đình không được cản trở bà Lê Thị Tuyết M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Võ Lê Ngọc Q, Võ Tấn L, Võ Tấn P. Người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể thay đổi theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng cho con: Bà Lê Thị Tuyết M không phải cấp dưỡng cho con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng cho con chung có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí:
Ông Võ Văn N phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0021347 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N được ly hôn M
