|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số:59/2025/HS - ST
Ngày 24/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường
Các Hội thẩm nhân dân. 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
2. Ông Dương Văn Xuyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng và ông Thiều Văn Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 24/03/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 03 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1999, tại Thanh Hóa; HKTT: Phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số F, đường Đ, P, H, H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 08/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1971; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1973; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2024 (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Khắc T1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm 2001, tại Quảng Ngãi; HKTT: Xóm A, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: P, số B, TMT2A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Họ và tên cha: Nguyễn Đại L1, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Đặng Thị H, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2024 (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc T1: Luật sư Nguyễn Văn D và Luật sư Phùng Ngọc L2 – Văn Phòng L3, Đoàn Luật sư thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 4.1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt tại phiên tòa).
- 4.2. Anh Cao Ngọc S, sinh năm 1999; Địa chỉ: B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt tại phiên tòa).
- 4.3. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 15h 30' ngày 10/9/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại địa bàn thôn M, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, đã phát hiện Đặng Ngọc T2 (sinh năm 2000 ở ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai) là S1 đang đứng ở ven đường chờ giao hàng cho khách nên đã tiến hành kiểm tra hành chính và tạm giữ 02 túi nilon đều chứa thảo mộc khô (nghi là chất ma túy) đựng trong hộp cattong. T2 khai nhận 02 túi nilon trên nhận từ một người nữ giới không quen biết tại cửa nhà số F, đường Đ - P, phường H, quận H, Hà Nội để đi giao cho khách ở địa bàn huyện S. Cơ quan điều tra đã dẫn Đặng Ngọc T2 đến vị trí nhận đơn hàng tại số F, đường Đ - P, phường H, xác định nữ giới gửi hàng tên là Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1999, trú tại TDP L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa). Tại đây, H1 khai nhận là người đã giao đơn hàng cho Đặng Ngọc T2 (shiper) để gửi hàng đi giao cho khách. Hộp cattong đựng 02 gói nilong chứa thảo mộc khô là của Nguyễn Văn T (sinh năm 1999, trú tại TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa). Dẫn giải H1 về phòng trọ tại tầng 5 nhà số F, đường Đ - P, phường H để khám xét và đưa T về trụ sở Công an phường H, quận H để điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 8/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Văn T biết việc mua, bán thuốc thảo mộc khô chứa chất ma túy đem lại lợi nhuận nên T đã tìm kiếm trên mạng đầu mối để nhập thảo mộc khô chứa chất ma túy về rồi chia nhỏ bán kiếm lời. T nhắn tin qua tài khoản Zalo “Tôi bị gay” đặt mua thảo mộc khô chứa chất ma túy với tài khoản zalo “Tini Shop” của Nguyễn Khắc T1 (sinh năm 2001, trú tại phòng 204, số B, TMT2A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh). T và T1 thỏa thuận việc giao nhận hàng qua xe khách hoặc qua công ty giao hàng do T1 gửi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Bến xe N - Hà Nội để T ra nhận hàng. T thanh toán tiền cho T1 từ tài khoản M số 0365956931 mang tên Nguyễn Văn T đến tài khoản BIDV số 8871065539 mang tên Nguyễn Khắc T1. Từ tháng 8/2024 đến tháng 9/2024, T đã thảo mộc khô chứa chất ma túy của Nguyễn Khắc T1 nhiều lần, trong đó xác định cụ thể được 03 lần:
- + Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 8/2024, T mua của Nguyễn Khắc T1 500gam thảo mộc khô chứa chất ma túy với giá 3.500.000đ;
- + Lần thứ hai: Ngày 03/9/2024, T mua của Nguyễn Khắc T1 khoảng 10kg thảo mộc khô chứa chất ma túy với giá 64.999.999đ;
- + Lần thứ ba: Ngày 09/9/2024 T mua của Nguyễn Khắc T1 12kg thảo mộc khô chứa chất ma túy với giá 78.000.000đ.
Sau mỗi lần mua được ma túy, T đem về phòng trọ tại tầng 5, nhà số F, đường Đ-P, H, H, Hà Nội rồi chia thành các túi nhỏ để bán kiếm lời. Thời gian đầu, T đăng bán thảo mộc khô chứa chất ma túy trên tài khoản Facebook “Nguyên Nguyễn”, sử dụng tài khoản T4 số 19037105372010 để nhận tiền và dùng phương thức đặt ship trên mạng để giao ma túy cho người mua. Đến cuối tháng 8/2024, Nguyễn Thị H1 là chị gái họ của T đến ở cùng phòng trọ với T. Do H1 không có việc làm nên T đã thuê H1 chia nhỏ thảo mộc khô mua chứa chất ma túy của Trung thành các túi nilong nhỏ và đánh số 1, 2, 3, 5 tương ứng với 03 gam, 06 gam, 09 gam, 15 gam. Khi có khách đặt mua hàng, T bảo H1 cho các túi nilong vào hộp cattong, sau đó đưa cho shiper để đi giao hàng cho khách. T đã bán nhiều đơn hàng thảo mộc khô chứa chất ma túy cho những người mua đặt qua mạng Facebook nhưng không nhớ được các thông tin của những người mua. Quá trình điều tra xác định. Ngày 04/9/2024, T đã bán cho người sử dụng tài khoản Facebook “Anhhh Huy” 100gam thảo mộc khô chứa chất ma túy với giá 1.850.000đ, thanh toán qua tài khoản ngân hàng B (số tài khoản mới là 4823370255); ngày 09/9/2024, T đã bán thảo mộc khô chứa chất ma túy cho nam giới sử dụng tài khoản facebook “Minh Dũngg N” với giá 600.000đ (bao gồm cả phí ship), thanh toán qua tài khoản ngân hàng T4 số 19039733075011 và khoảng 13h00' ngày 10/9/2024, T tiếp tục bán 7,810 gam thảo mộc khô chứa chất ma túy cho tài khoản facebook “Minh Dũngg Ngô”, giá 500.000đ (bao gồm 200.000đ tiền ma túy và 300.000đ tiền ship).
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 25/9/2024 Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Khắc T1 tại số B TMT B, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, tạm giữ của T1 02 điện thoại di động Iphone. Nguyễn Khắc T1 khai nhận đã bán thảo mộc khô chứa chất ma túy cho Nguyễn Văn T nhiều lần, T1 nhớ được 03 lần, cụ thể: Lần thứ nhất vào khoảng cuối tháng 8/2024, T1 bán 0,5kg thảo mộc khô chứa chất ma túy cho T với giá 3.500.000đ; lần thứ hai vào ngày 03/9/2024, T1 bán 10kg thảo mộc khô chứa chất ma túy cho T với giá 64.999.999đ; lần thứ ba vào ngày 09/9/2024 T1 bán 12kg thảo mộc khô chứa chất ma túy cho T với giá 78.000.000đ, T1 đã nhận đủ tiền của T qua tài khoản nhưng do không có người nhận nên đơn hàng chứa 12 kg thảo mộc khô chứa chất ma túy đang lưu tại kho của Công ty V có địa chỉ tại số D, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra đơn hàng trên tại Công ty V phát hiện và thu giữ 01 thùng giấy đựng 04 túi nilong đều chứa thảo mộc khô; 01 thùng giấy đựng 03 túi nilong đều chứa thảo mộc khô.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T tại phòng trọ tầng 5, số F, đường Đ-P, H, H, Hà Nội phát hiện đang ở trong phòng có đối tượng Cao Ngọc S (sinh năm 1999, ở thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) và Lê Văn Đ (sinh năm 2001, ở thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa).
Xét nghiệm nước tiểu của Đặng Ngọc T2, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc T1, Lê Văn Đ và Cao Ngọc S có kết quả phản ứng âm tính với ma túy.
* Vật chứng thu giữ:
- + Ngày 10/9/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện S tạm giữ của Đặng Ngọc T2 02 túi nilon đều chứa thảo mộc khô đựng trong hộp cattong (Niêm phong ký hiệu A);
- + Tạm giữ của Nguyễn Thị H1 gồm: 630 túi nilon đều chứa thảo mộc khô; 30 túi nilon màu xanh có ghi chữ Chè T có chứa thảo mộc khô; 15 túi nilon màu vàng có chứa thảo mộc khô; 01 thùng nhựa chứa thảo mộc khô (Niêm phong ký hiệu B); 01 điện thoại di động Iphone màu hồng; 01 cân điện tử; 01 cây máy tính;
- + Tạm giữ của Nguyễn Văn T 23.105,120 gam thảo mộc khô; 01 chiếc điện thoại di động;
- + Tạm giữ của Nguyễn Khắc T1 12.000 gam thảo mộc khô; 02 chiếc điện thoại di động;
- + Tạm giữ của của Cao Ngọc S 01 chiếc điện thoại di động;
- + Tạm giữ của Lê Văn Đ gồm: 07 túi nilon màu đen bên trong có 07 túi nilon màu trắng đều chứa thảo mộc khô; 02 túi nilon màu hồng bên trong mỗi túi đều có 01 túi nilon màu hồng đều chứa thảo mộc khô; 01 túi nilon màu hồng bên trong có 02 túi nilon đều chứa thảo mộc khô; 01 túi nilon màu hồng bên trong có 02 túi nilon đều chứa thảo mộc khô; 02 túi nilon màu hồng bên trong mỗi túi có 02 túi nilon đều chứa thảo mộc khô; 01 túi nilon màu hồng bên trong có 01 túi nilon màu xanh chứa thảo mộc khô (Niêm phong ký hiệu C); 01 điện thoại di động Iphone màu đen; 01 điện thoại di động Sam Sung màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 6663 ngày 20/9/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận:
- * Vật chứng niêm phong ký hiệu A: Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilong đều có ma tuý loại MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA, tổng khối lượng 7,810 gam.
- * Vật chứng niêm phong ký hiệu B: Thảo mộc khô bên trong 630 túi nilon đều có ma tuý loại MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA, tổng khối lượng 2.380 gam. Thảo mộc khô bên trong 30 túi nilon màu xanh có ghi chữ Chè T đều có ma tuý loại MDMB-BUTINACA và ma túy loại MDMB-INACA, tổng khối lượng 4.750 gam. Thảo mộc khô bên trong 15 túi nilon màu vàng đều có ma tuý loại MDMB-INACA và MDMB-BUTINACA, tổng khối lượng 13.800 gam. Thảo mộc khô bên trong 01 thùng nhựa có ma tuý loại MDMB-INACA, ma túy loại MDMB-BUTINACA và ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 2.100 gam.
- * Vật chứng niêm phong ký hiệu C: Thảo mộc khô bên trong 07 túi nilong màu trắng (để trong 07 túi nilong màu đen); 02 túi nilong (để trong 02 túi nilong màu hồng); 02 túi nilong (để trong 01 túi nilong màu hồng); 02 túi nilong (để trong 02 túi nilong màu hồng); 02 túi nilong (để trong 01 túi nilong màu hồng) và 01 túi nilong màu xanh (để trong 01 túi nilong màu hồng) đều có ma túy loại MDMB-BUTINACA và ma túy loại MDMB-INACA, tổng khối lượng 75,120 gam.
Tổng khối lượng ma túy A+B+C là 23.112,930 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 7016 ngày 04/10/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận:
Thảo mộc khô bên trong 07 túi nilong đều có ma túy loại MDMB-BUTINACA, tổng khối lượng 12.000 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 8152 ngày 30/10/2024 của V1 – Bộ C kết luận:
Lượng MDMB-4en-PINACA trong mẫu thực vật gửi giám định rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp, nên không xác định được hàm lượng, khối lượng chất này trong mẫu; V1 chưa có mẫu chuẩn định lượng MBMB-INACA và MDMB-BUTINACA, nên không xác định được hàm lượng, khối lượng các chất này trong mẫu gửi giám định.
Ngày 24/10/2024, V1 – Bộ C có Công văn số 3204/C09-TT2 về việc từ chối giám định hàm lượng, khối lượng chất ma túy đối với các chất ma túy MBMB-INACA và MDMB-BUTINACA có trong các mẫu ký hiệu A, C, B (gồm 03 mẫu thảo mộc khô không tiến hành giám định). Hàm lượng, khối lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA có trong các mẫu thùng xốp do Cơ quan giám định chưa có mẫu chuẩn định lượng các chất ma túy MBMB-INACA và MDMB-BUTINACA.
Từ ngày 21/8/2024 đến ngày 09/9/2024, Nguyễn Văn T đã chuyển cho Nguyễn Khắc T1 tổng cộng 07 lần với số tiền 259.999.995đ để mua ma túy tobaco. Tổng số tiền T1 được hưởng lợi là 25.999.999đ. Toàn bộ số tiền trên, T1 đã sử dụng, tiêu sài cá nhân hết.
Đối với số tiền 25.500.000 đồng, T chuyển cho T1 vào ngày 14/8/2024 từ tài khoản M số 0365956931 đến tài khoản A số 6320205006591 xác định không liên quan đến hành vi mua bán ma túy.
Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ: Quá trình điều tra xác đinh, Nguyễn Khắc T1 mua của một nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể thông qua mạng xã hội Facebook, T1 nhận hàng thông qua xe khách về TP Hồ Chí Minh và thanh toán tiền mặt trực tiếp, sau đó bán lại cho T. Hiện nay, T1 không nhớ tên tài khoản của người bán và thông tin xe khách giao hàng, nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra, ngày 05/9/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận N, thành phố Hà Nội đã bắt giữ đối tượng Đào Quang H2 (sinh năm 1999, trú tại thôn C N, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam) về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. H2 khai nhận ngày 04/9/2024 đã mua 100 gam thảo mộc khô chứa chất ma túy của Nguyễn Văn T với giá 1.850.000đ. Cơ quan điều tra Công an quận N, Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đào Quang H2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đối với hành vi của Nguyễn Văn T, Cơ quan CSĐT Công an quận N đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan và chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện S để giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với Đặng Ngọc T2 là người làm dịch vụ vận chuyển giao hàng ở khu vực thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra xác định: T2 không biết bên trong gói hàng nhận từ H1 vào ngày 10/9/2024 để chuyển đến huyện S giao cho khách là ma túy nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Thị H1 là đối tượng được T thuê chia thảo mộc khô vào các túi niolong nhỏ, khi có shiper đến nhận đơn hàng H1 đem xuống giao cho S1 theo chỉ đạo của T. Bản thân H1 không biết số thảo mộc khô trên có chứa chất ma túy và chưa bao giờ sử dụng ma túy nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Lê Văn Đ là đối tượng được T thuê đi giao các đơn hàng trên địa bàn thành Hà Nội. Trước đó, Đ đã giao nhiều đơn hàng cho khách nhưng không nhớ cụ thể vị trí, thông tin; Ngày 10/9/2024, Đ đem theo 14 túi nilon (07 túi màu hồng và 07 túi màu đen) để đi giao cho khách nhưng không giao được. Quá trình nhận, giao hàng thuê cho T, Đ không biết trong các đơn hàng là thảo mộc khô chứa chất ma túy nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Cao Ngọc S là bạn trai của Nguyễn Thị H1 đến phòng trọ của T chơi. S không biết các thảo mộc khô trong phòng trọ có chứa chất ma túy. S chưa bao giờ sử dụng ma túy nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Đình Phương N1 là chủ nhà trọ số F, đường Đ - P, phường H, quận H, Hà Nội. N1 không biết việc T mua bán trái phép chất ma túy tại phòng trọ thuê nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh số điện thoại 0377.463.xxx đặt mua thảo mộc khô chứa chất ma túy với T vào ngày 10/9/2024, xác định chủ thuê bao là Ngô Văn H3 (sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng), anh H3 chưa từng sử dụng hay đăng ký chính chủ số điện thoại nêu trên và không quen biết ai tên Nguyễn Văn T và các tài khoản Facebook “Nguyên Nguyễn”, “Minh Dũngg N”. Bản thân anh H3 không đặt mua và chưa bao giờ sử dụng ma túy. Xét nghiệm nước tiểu của H3 cho kết quả âm tính với ma túy nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tài khoản T4 số 19039733075011, chủ tài khoản là chị Nguyễn Thị T3 (sinh năm 1978, trú tại thôn M, xã M, huyện S, Hà Nội). Chị T3 hiện đang bán quán nước tại khu vực xã P, huyện S, Hà Nội nên có nhiều khách ra vào và có nhờ chị đổi tiền bằng cách chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng. Hiện nay, chị không nhớ được ai là người nhờ và nội dung cụ thể là gì. Bản thân chị T3 không đặt mua ma túy nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
Ngày 17/12/2024, Phòng an ninh mạng và PCTP sử dụng công nghệ cao – Công an thành phố H trả lời xác minh thông tin xác định: Phòng an ninh mạng và PCTP sử dụng công nghệ cao Công an thành phố H không phải là cơ quan quản lý Nhà nước đối với các dịch vụ viên thông, Internet, dịch vụ và ứng dụng trên Internet nên không có đủ thẩm quyền để cung cấp các thông tin liên quan đến tài khoản mạng xã hội, tài khoản ứng dụng, trang web, ứng dụng di động.
Tra cứu tài khoản M số 0365956931 của Nguyễn Văn T xác định tại thời điểm ngày 04/10/2024 có số dư 309.000.004 đồng. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản đối với số tiền trên để đảm bảo việc truy thu số tiền do phạm tội mà có. Đối với tài khoản T4 số 19037105372010 của Nguyễn Văn T và tài khoản BIDV số 8871065539 của Nguyễn Khắc T1 có số dư tài khoản nhỏ nên Cơ quan điều tra không ra Lệnh phong tỏa tài khoản.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 17/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và đồng phạm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Đ1 b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. nội dung điều luật quy định:
- “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- 2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- ........;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- ...;
- 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dướ 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên toà:
- * Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được giảm nhẹ một phần hình phạt.
- * Luật sư Nguyễn Văn D trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khắc T1; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T1 thấp hơn mức án mà Viện kiểm sát đề nghị.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định.
- Trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động do tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- * Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Khắc T1, mỗi bị cáo từ 8 đến 9 năm tù.
- - Áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn T; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Khắc T1.
- - Tịch thu sung quỹ số tiền thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Văn T 150.000.000 đồng, 01 cây máy tính, 01 cân điện tử của bị cáo Nguyễn Khắc T1 25.999.999 đồng;
- - Tịch thu tiêu hủy: 03 hộp giấy niêm phong ma túy có chữ ký của các thành phần;
- - Trả lại cho chị H1 1 điện thoại di động, trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động; Trả lại cho anh Đ 01 điện thoại di động; Trả lại cho anh S 01 điện thoại di động.
- - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Khoảng từ giữa tháng 8/2024, Nguyễn Khắc T1 đã nhiều lần bán trái phép thảo mộc khô có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA; MBMB-INACA và MDMB-BUTINACA cho Nguyễn Văn T. Trong đó, đã xác định được ba lần: Lần thứ nhất vào cuối tháng 8/2024, T1 bán 0,5kg thảo mộc khô có chứa chất ma túy cho T với giá 3.500.000đ; lần thứ hai vào ngày 03/9/2024, Nguyễn Khắc T1 đã bán trái phép 10kg thảo mộc khô có chứa chất ma túy cho Nguyễn Văn T với giá 64.999.999đ; lần thứ ba vào ngày 09/9/2024, Nguyễn Khắc T1 bán trái phép 12kg thảo mộc khô có chứa chất ma túy cho Nguyễn Văn T với giá 78.000.000đ. Sau khi mua được thảo mộc khô có chứa chất ma túy, Nguyễn Văn T đã chia nhỏ rồi bán cho nhiều đối tượng khác thông qua mạng xã hội Facebook để kiếm lời. Trong đó, đã xác định được ngày 04/9/2024, T bán trái phép cho Đào Quang H2 100gam thảo mộc khô có chứa chất ma túy với giá 1.850.000đ; ngày 09/9/2024, T bán trái phép 01 gói thảo mộc khô có chứa chất ma túy cho đối tượng có số tài khoản facebook “Minh Dũngg Ngô” với giá 600.000đ; ngày 10/9/2024, T tiếp tục 7.810 gam thảo mộc khô có chứa chất ma túy cho tài khoản facebook “Minh Dũngg Ngô”, giá 500.000đ. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Văn T 23.105,120 gam thảo mộc khô có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA, MBMB-INACA và MDMB-BUTINACA; tạm giữ của Nguyễn Khắc T1 12.000 gam thảo mộc khô có chứa chất ma túy MDMB-BUTINACA.
Hành vi của Nguyễn Văn T và đồng phạm đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Đ1 b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy do đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự - tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nữa mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Vụ án này có đồng phạm mang tính giản đơn; Nguyễn Văn T là người giữ vai trò khởi xướng và tích cực cùng với Nguyễn Khắc T1 thực hiện hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 2020 – 2022, bị cáo đã nộp lại số tiền thu lời bất chính để đảm bảo thi hành án; Gia đình các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Khắc T1 đều có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- * Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Nguyễn Văn T cần áp dụng Khoản 5 Điều 251 phạt tiền 50.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước; Đối với bị cáo Nguyễn Khắc T1 không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- * Đối với số tiền thu lời bất chính của các bị cáo cần được truy thu để sung ngân sách Nhà nước.
- [4] Xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số ma túy tạm giữ cần tịch thu tiêu hủy; Đối với tài sản liên quan đến hành vi phạm tội cần cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; Đối với các tài sản khác không liên quan cần tuyên trả cho chủ sở hữu.
- [5] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Khắc T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính:
- Áp dụng Đ1 b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/09/2024.
- Áp dụng Đ1 b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/09/2024.
- Áp dụng Đ1 b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự,
Phạt tiền 50.000.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn T để sung ngân sách Nhà nước (được khấu trừ vào số tiền 309.000.004 đồng tại tài khoản M số 0365956931 của bị cáo Nguyễn Văn T – theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 1789/LPT-ĐCMT ngày 05/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện S).
- Những vấn đề khác: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- + Truy thu số tiền thu lời bất chính 150.000.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn T (được khấu trừ vào số tiền 309.000.004 đồng tại tài khoản M số 0365956931 của bị cáo Nguyễn Văn T– theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 1789/LPT-ĐCMT ngày 05/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện S); 25.999.999 đồng với bị cáo Nguyễn Khắc T1 (đã nộp tại biên lai thu tiền số 0063014, ký hiệu BLTT/23 ngày 24/03/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sóc Sơn, Hà Nội).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền còn lại là 108.800.004 đồng (tại tài khoản MB Bank số M) sau khi đã thực hiện xong toàn bộ các nghĩa vụ về tài chính trong nội dung bản án này.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp niêm phong ma túy có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan niêm phong; 02 hộp giấy niêm phong ma túy có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan niêm phong; 01 hộp giấy niêm phong ma túy có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của cơ quan niêm phong.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng màu bạc, số IMEI 3534755124731222, 01 cây máy tính màu đen, 01 cân điện tử màu bạc thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số IMEI 357104916362428 tạm giữ của Nguyễn Khắc T1.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khắc T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám trắng, số IMEI 3547731653628; Trả lại cho cho chị Nguyễn Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, số IMEI 355841084643111; Trả lại cho cho anh Cao ngọc S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số I; Trả lại cho cho anh Lê Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số IMEI 356556105657887; (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/02/2025 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án huyện Sóc Sơn).
- + Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Khắc T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần liên quan; đối với người có mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Minh Cường |
Bản án số 59/2025/HS - ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
