|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày: 21-03-2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Ông Lương Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Lê Hoàn P, sinh ngày 14/9/2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B, đường N, phường N, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Không rõ; mẹ Nguyễn Thị L; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024, có mặt.
- Nguyễn Thành N, sinh ngày 20/11/2002, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lý Thị Đ; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Văn T, sinh năm 2002, nơi thường trú tại: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Lê Hoàn P, Nguyễn Thành N và Trần Văn T là bạn bè quen biết nhau, đều là người sử dụng trái phép chất ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine). P sống cùng bà Nguyễn Thị L, ông Lê Thanh V và chị Nguyễn Thị Trúc V1 là mẹ, cha dượng và em ruột của P tại nhà thuê không số thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 12 giờ ngày 04/6/2024, Nguyễn Lê H P nảy sinh ý định mua ma túy đá để sử dụng và bán lại kiếm lời nên sử dụng điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 13 màu xanh gắn sim số 0378378206 gọi điện thoại qua mạng xã hội Z cho người tên B1 (không rõ lai lịch) sống tại khu vực phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương hỏi mua 5.500.000 đồng ma túy đá thì B1 đồng ý và hẹn P đến khu vực gần quán C cạnh đường L thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bán ma túy. Sau đó, P thuê xe mô tô G (không rõ biển số) đi đến điểm hẹn mua được 01 túi nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá với giá 5.500.000 đồng của B1 và đem về nhà thuê thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Tại đây, P lấy ma túy phân chia thành 04 phần cho vào túi nylon miệng kéo dính và để trên bàn trong phòng ngủ của P. Đến khoảng 22 giờ ngày 06/6/2024, Nguyễn Thành N và Trần Văn T đi đến nhà của P chơi. Tại đây, N và T đi vào phòng ngủ của P. Lúc này, P lấy một ít ma túy đá trong túi nylon miệng kéo dính chứa ma tuý đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của P mua của người (không rõ lai lịch) qua mạng xã hội Facebook, dùng hộp quẹt đốt ma túy đá trong nỏ thủy tinh cùng sử dụng với N và T.
Đến khoảng 11 giờ ngày 07/06/2024, N và T đi đến nhà của P chơi. Tại đây, N và T đi vào phòng ngủ của P, P lấy một ít ma túy đá trong túi nylon miệng kéo dính chứa ma tuý đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của P và dùng hộp quẹt đốt ma túy đá trong nỏ thủy tinh cùng sử dụng với N và T.
Đến khoảng 12 giờ, cùng ngày 07/6/2024, người đàn ông tên “Bánh bèo” (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Thành P1” gọi điện thoại qua tài khoản Zalo tên “An Khang” của P hỏi mua 200.000 đồng ma tuý đá hẹn giao ma túy ở khu vực gần cổng trước khu D thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, P đồng ý. Sau đó, P lấy một ít ma tuý đá từ trong túi nylon miệng kéo dính chứa ma tuý trên bàn ra đổ vào 01 túi nylon nhỏ đưa cho N giữ. P mượn xe mô tô hiệu Yamaha Exciter (không rõ biển số) của người bạn tên T1 (không rõ lai lịch) tại khu vực phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương điều khiển xe chở N đi đến khu vực gần cổng trước khu du lịch Đại Nam gặp người đàn ông tên “Bánh bèo”. Tại đây, P, N bán 01 túi nylon chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng cho người đàn ông tên “Bánh bèo” nhưng người đàn ông tên “Bánh bèo” không có tiền nên xin P cho nợ tiền thì P đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe chở N quay về nhà của P rồi trả xe cho T1.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày 07/6/2024, người đàn ông tên M (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Lạc Bước” gọi điện thoại qua tài khoản Zalo tên “An Khang” của P hỏi mua 3.500.000 đồng ma tuý đá nhưng hẹn chia làm hai lần giao ma túy, lần thứ nhất tại khu vực chợ H1 thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, P đồng ý. Sau đó, P lấy một ít ma tuý đá từ trong túi nylon miệng kéo dính chứa ma tuý trên bàn ra đổ vào 01 túi nylon nhỏ đưa cho N đem đi bán ma túy cho M. Do không có xe, nên N hỏi mượn xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số 94K2 – 298.93 của T và nói dối đi về nhà tắm và mua nước uống, T đồng ý. N điều khiển xe mô tô biển số 94K2 – 298.93 đi đến khu vực chợ H1 bán 01 túi nylon nhỏ chứa ma túy đá cho M, xong N quay về nhà của P. Lần bán ma túy này, N chưa nhận tiền từ M.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày 07/6/2024, M tiếp tục gọi điện thoại qua mạng xã hội Z cho P hẹn giao phần ma túy còn lại tại khu vực chợ H1 thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, P đồng ý. Sau đó, P lấy một ít ma tuý đá từ trong túi nylon miệng kéo dính chứa ma tuý trên bàn ra đổ vào 01 túi nylon nhỏ đưa cho N đi bán ma túy cho M và lấy tiền, N đồng ý. Sau đó, N tiếp tục mượn xe biển số 94K2 – 298.93 của T đi đến khu vực chợ H1 bán má túy cho M. Tại đây, M trả số tiền 3.500.000 đồng cho N đem về đưa cho P; sau khi nhận tiền N cất tiền vào túi quần phía trước bên phải của N đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số: 94K2 – 298.93 quay về nhà của P.
Những lần N đi bán ma túy cho P, P đã trả tiền công cho N là 1.000.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, khi N vừa điều khiển xe mô tô biển số 94K2 – 298.93 về đến nhà của P thì bị lực lượng Công an phường T kiểm tra hành chính nhà của P, phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên bàn gỗ. P, N và T khai nhận trước đó đã sử dụng ma túy tại nhà của P. Đến khoảng 18 giờ ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nhà không số thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương của P thuê ở, phát hiện 04 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, 01 cân điện tử hiệu Amput màu đen và 02 kéo bằng kim loại. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.
Theo Kết luận giám định số 2764/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng (bị thu giữ), gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 19,3902 gam (M1), 3,5721 gam (M2), 1,8688 gam (M3), 0,5894 gam (M4), loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng: 18,8400 gam (M1), 3,2135 gam (M2), 1,7417 gam (M3), 0,3153 gam (M4), loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ chưa xử lý:
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 04 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, 01 cân điện tử hiệu Amput màu đen, 02 kéo bằng kim loại, 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 13 màu xanh, gắn sim số 0378378206 của Nguyễn Lê Hoàn P.
- Số tiền 3.500.000 đồng, 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, gắn sim số 0944989593 của Nguyễn Thành N.
Vật chứng thu giữ đã được xử lý: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số: 94K2 – 298.93 thu giữ của Nguyễn Thành N, xe do Trần Văn T đứng tên đăng ký. Ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số: 94K2 – 298.93 cho Trần Văn T.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P, Nguyễn Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 63/CT-VKSBC ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng các điểm b, i khoản 2 Điều 251; các điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê H Phong mức hình phạt từ 11 năm đến 13 năm tù đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê H Phong mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức từ 19 năm đến 22 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 13 màu xanh của Nguyễn Lê Hoàn P; 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 7 Plus màu vàng và số tiền 3.500.000 đồng của Nguyễn Thành N.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành N nộp lại số tiền 1.000.000 đồng của Nguyễn Thành N do phạm tội mà có.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 24,1105 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 cân điện tử hiệu Amput màu đen, 02 kéo bằng kim loại và sim số 0378378206 của Nguyễn Lê Hoàn P; sim số 0944989593 của Nguyễn Thành N.
Các bị cáo P, N đều không tranh luận, thống nhất hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố; thống nhất về tội danh, mức hình phạt được thể hiện tại Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Ngoài ra, bị cáo P xác định mục đích mua ma túy là để bán lại kiếm lời và để sử dụng, nhưng trong 04 phần cho ma túy vào túi nylon miệng kéo dính thì bị cáo không xác định được gói nào dùng để sử dụng, vì mục đích chính của bị cáo là bán lại kiếm lời.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của bản thân, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 04/6/2024, Nguyễn Lê H P có hành vi mua ma túy loại Methamphetamine của nam thanh niên tên B1 (không rõ lai lịch) tại khu vực phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để bán lại để kiếm lời. Bị cáo N đã giúp sức cho bị cáo P bán ma túy 03 lần, cụ thể như sau:
- Khoảng 12 giờ ngày 07/6/2024, tại khu vực gần cổng trước khu D thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo N bán cho người đàn ông tên “Bánh bèo” (không rõ lai lịch) 01 túi nylon chứa ma túy với giá 200.000 đồng.
- Khoảng 13 giờ đến 15 giờ ngày 07/6/2024, tại khu vực chợ H1 thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, bị cáo N 02 lần bán cho người đàn ông tên M (không rõ lai lịch) 02 túi nylon chứa ma túy với giá 3.500.000 đồng.
Ngoài ra, từ khoảng 22 giờ ngày 06/6/2024 đến khoảng 11 giờ ngày 07/06/2024, tại nhà không số thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương nơi bị cáo P thuê ở, P có hành vi 02 lần tổ chức cho bị cáo N và Trần Văn T sử dụng trái phép chất ma túy.
Đồng thời, qua khám xét tại nhà không số thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương nơi bị cáo P thuê ở, lực lượng Công an thu giữ được 25,4205 gam ma túy loại Methamphetamine của bị cáo P cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác.
Do đó, hành vi của bị cáo P thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi bị cáo N thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đối với các bị cáo P, N tại Cáo trạng theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về vai trò, tính chất, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3.1. Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo P, N là đồng phạm mang tính chất giản đơn. Trong đó P là người trực tiếp cung cấp ma túy, thỏa thuận việc mua bán ma túy, trực tiếp đi bán ma túy với N 01 lần vào ngày 07/6/2024 và là người cung cấp ma túy, công cụ sử dụng ma túy, tổ chức cho T và bị cáo N sử dụng ma túy. Còn N giúp P bán ma túy 03 lần và là người được P tổ chức cho sử dụng ma túy.
3.2. Về tính chất: Hành vi nêu trên của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Điều 3 Luật phòng chống ma túy, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành phạm tội các bị cáo có đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình; các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
3.3. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo P, N không có;
3.4. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Xét thấy, cần áp dụng đối với các bị cáo với mức hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Căn cứ tính chất mức độ, hậu quả của hành vi mà các bị cáo thực hiện cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chấp ma túy” và đối với bị cáo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với mức hình phạt Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là cao so với tính chất, mức độ hành vi bị cáo phạm tội, nên Hội đồng xét xử xem xét xử nhẹ hơn mức Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 13 màu xanh của bị cáo P; 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 7 Plus màu vàng của bị cáo N là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng khi thực hiện hành vi phạm tội và số tiền 3.500.000 đồng thu giữ của N là tài sản do phạm tội mà có; nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo N nộp số tiền 1.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 24,1105 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 cân điện tử hiệu Amput màu đen, 02 kéo bằng kim loại và sim số 0378378206 của Nguyễn Lê Hoàn P; sim số 0944989593 của Nguyễn Thành N, là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng khi thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số: 94K2 – 298.93 thu giữ của Nguyễn Thành N, xe do Trần Văn T đứng tên đăng ký. Ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số: 94K2 – 298.93 cho Trần Văn T, nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về hành vi sử dụng ma túy của Trần Văn T: Ngày 31/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn T phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nên không đặt ra xử lý là phù hợp.
[8] Đối với hành vi bị cáo P mua ma túy, ngoài mục đích bán lại kiếm lời thì bị cáo khai còn dùng để sử dụng. Xét thấy, trong 04 phần ma túy được bị cáo P cho vào túi nylon miệng kéo dính thì bị cáo không xác định được lượng ma túy bị cáo dùng để sử dụng vì mục đích chính của bị cáo là bán lại kiếm lời và Cơ quan điều tra Công an thành phố B cũng không xác định được lượng ma túy bị cáo P dùng để sử dụng trong tổng lượng ma túy thu giữ được. Do đó, không có căn cứ xem xét bị cáo có hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, là phù hợp.
[9] Về an phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các điểm b, i khoản 2 Điều 251; các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các Điều 17, 38, 55, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P.
- Điểm b khoản 2 Điều 251, các Điều 17, 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thành N.
- Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Các Điều 106, 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P: 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt là: 18 (mười tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 13 màu xanh (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được số Model, số IMEL, máy không khởi động được) của bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P; 01 điện thoại di động kiểu dáng hiệu Iphone 7 Plus màu vàng (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được số Model, số IMEL, máy không khởi động được) và số tiền 3.500.000 (ba triệu, năm trăm nghìn) đồng của bị cáo Nguyễn Thành N.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành N nộp lại số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
- Tịch thu và tiêu hủy:
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cân điện tử hiệu Amput màu đen; 02 kéo bằng kim loại và sim số 0378378206 của bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P; sim số 0944989593 của bị cáo Nguyễn Thành N.
- + 01 Bì thư được niêm phong ghi số 2764/PC09 có chữ ký của Nguyễn Lê Hoàn P (người chứng kiến), chữ ký của Đinh Công T2 (cán bộ nhận mẫu), chữ ký của Nguyễn Hoàng N1 (cán bộ giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa khối lượng mẫu vật niêm phong 18.8400 gam (M1); 3,2135 gam (M2); 1,7417 gam (M3); 0,3153 gam (M4), loại Methamphetamine.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số: 94K2 – 298.93 thu giữ của Nguyễn Lê Hoàn P, xe do Trần Văn T đứng tên đăng ký. Ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số: 94K2 – 298.93 cho Trần Văn T, nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí:
(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên bản giao nhận ngày 28 thán 02 năm 2025 và Giấy nộp tiền ngày 31/03/2025).
Buộc các bị cáo Nguyễn Lê Hoàn P, Nguyễn Thành N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Hằng |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
