|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 59/2025/HS-ST
Ngày: 21/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Xây
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hải Phùng
2. Bà Nguyễn Minh Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên toà:
Ông Lương Tuấn Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa;
Xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 36/TLST-HS ngày 04/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/HSST ngày 06/3/2025, đối với:
- Bị cáo Hoàng Thị L, sinh năm 1993; Giới tính: Nữ;
Nơi ĐKNKTT: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: Không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Văn S; Con bà: Trần Thị T; Con: Có 02 người con sinh năm 2011 và 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 20/12/2024; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, có mặt.
- Người liên quan: Chị Phùng Thị H, SN 2003; trú tại Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 20/12/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận Đ tiến hành kiểm tra hành chính đối với nhà khách G (Địa chỉ: Số D ngõ H, đường P, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội). Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại phòng 104, Hoàng Thị L (Sinh năm 1993; trú tại xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) đang có hành vi bán dâm cho Nguyễn Đức T1 (Sinh năm 1988; trú tại xóm D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội).
Đấu tranh tại chỗ, Hoàng Thị L khai còn môi giới cho Phùng Thị H (Sinh năm 2003; trú tại Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) bán dâm cho Vũ Hà P (Sinh năm 1996; trú tại số B phố H, quận H, thành phố Hà Nội) tại nhà nghỉ Đ (Địa chỉ: Số E, phố P, phường T (nay là phường K), quận Đ, Hà Nội).
Tổ công tác tiến hành kiểm tra nhà nghỉ Đ phát hiện tại phòng 202, Phùng Thị H đang bán dâm cho Vũ Hà P. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng Hoàng Thị L, Phùng Thị H, Nguyễn Đức T1, Vũ Hà P khai nhận hành vi của mình.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thị L khai: Từ khoảng đầu tháng 11/2024 do có nhu cầu bán dâm, L truy cập vào các hội nhóm bán dâm trên mạng xã hội Zalo và quen một đối tượng (chưa xác định được lai lịch) có thể đăng bài quảng cáo bán dâm trên trang mạng “xcheckerviet.vc”. L đã thuê đối tượng trên đăng bài quảng cáo bán dâm với giá thỏa thuận là 3.000.000 đồng/1 tháng.
Sau khi thỏa thuận, đối tượng trên đã đến chụp ảnh khỏa thân, khiêu dâm cho L rồi lấy ảnh đăng bài quảng cáo bán dâm trên trang “xcheckerviet.vc” kèm số điện thoại 0325.584.xxx để khách liên lạc.
Bài viết quảng cáo bán dâm của L trên trang web với nghệ danh là “H”, bán dâm tại khu vực Phạm Ngọc T2 - Xã Đàn với giá 300.000 đồng/1 lượt. Khi khách có nhu cầu mua dâm sẽ liên hệ với L qua số điện thoại 0325.584.xxx đặt vấn đề mua dâm. L sẽ thông báo cho khách đến thuê phòng tại nhà K.
Sau đó, khách báo lại số phòng cho L để L đến bán dâm. Một lần bán dâm L sẽ thu của khách 300.000 đồng như trên bài đăng, còn lại tiền thuê phòng khách sẽ là người trả. Ngoài ra, Phùng Thị H là người cùng quên của L cũng có nhu cầu bán dâm nên đã nhờ L đăng bài trên trang “xcheckerviet.vc” cho H.
Lệ đã liên hệ với đối tượng trên mạng xã hội đến chụp ảnh khiêu dâm cho H rồi đăng bài quảng cáo bán dâm với giá 3.000.000 đồng/1 tháng, L là người trả tiền hàng tháng cho đối tượng này.
Bài đăng của H được lấy nghệ danh bán dâm là “Diệu Nhi”, sử dụng số điện thoại 0345.209.xxx, khu vực bán dâm “Đặng Văn N - Xã Đ”. Số điện thoại 0345.209.xxx sử dụng để bán dâm do L là người quản lý. Khi khách mua dâm liên hệ, L sẽ là người nghe máy rồi báo khách đến nhà nghỉ Đ thuê phòng, sau đó L thông báo số phòng lại cho H.
Một lần bán dâm H thu của khách 300.000 đồng, trong đó H hưởng lợi 200.000 đồng, L sẽ thu 100.000 đồng. Số tiền thu từ H, L sẽ hưởng lợi và dùng để trả tiền cho đối tượng đăng bài hàng tháng.
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 20/12/2024, khi L đang ở phòng trọ tại địa chỉ số B, phố N, phường Q, quận Đ, Hà Nội thì Nguyễn Đức T1 sử dụng số điện thoại 0986.579.xxx gọi cho L để mua dâm. L đồng ý và bảo Toàn đến nhà khách G thuê phòng. T1 đến nhà khách G thuê phòng 104 rồi thông báo lại cho L biết để đến bán dâm. Khoảng 20 phút sau, L đến phòng 104 nhà khách Gia Huy bán dâm cho T1. T1 đưa cho L 500.000 đồng và nói muốn mua dâm 02 lượt “đi nhanh” (Lệ hiểu là T1 muốn quan hệ tình dục 02 lượt). L đồng ý và nhận tiền từ T1.
Khi L và T1 đang quan hệ mua bán dâm, Vũ Hà P sử dụng số điện thoại 0869.172.xxx gọi điện cho L để hẹn mua dâm với H. L hẹn P đến nhà nghỉ Đ thuê phòng rồi báo lại số phòng cho L. P đến nhà nghỉ Đ thuê phòng 202 rồi thông báo cho L, L báo lại cho H đến bán dâm cho khách. Khoảng 15 phút sau H có mặt tại phòng 202 của nhà nghỉ Đ để bán dâm cho P và được P trả tiền công 500.000 đồng. Trong đó, 300.000 đồng là tiền Phong trả tiền mua dâm, còn 200.000 đồng là P thưởng thêm cho H.
Khi Hoàng Thị L đang bán dâm cho Nguyễn Đức T1 tại phòng 104 nhà khách G và Phùng Thị H đang bán dâm cho Vũ Hà P tại phòng 202 nhà nghỉ Đ thì lực lượng công an kiểm tra phát hiện, như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản như sau: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh, 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel màu đen và 500.000 đồng của Hoàng Thị L; 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng và 500.000 đồng của Phùng Thị H; 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh của Nguyễn Đức T1; 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh của Vũ Hà P.
Đối với Phùng Thị H1, Nguyễn Đức T1 và Vũ Hà P có hành vi mua bán dâm nên Công an quận Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi mua dâm và bán dâm theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
Đối với đối tượng đến chụp ảnh và đăng bài cho L, H, do L và H khai không biết họ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Đối với 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng của Phùng Thị H; 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh của Nguyễn Đức T1; 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh của Vũ Hà P, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi môi giới mại dâm của Hoàng Thị L nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các đồ vật trên cho H, T1, P. Hiện H, T1 và P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng tiền mặt, Cơ quan điều tra đã chuyển Kho bạc nhà nước quận Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với nhà nghỉ Đ và nhà khách G, đã kịp thời phát hiện hành vi mua, bán dâm và báo cáo cơ quan Công an, nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận bản Cáo trạng truy tố là đúng.
Bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐĐ ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố Hoàng Thị Lệ về tội "Môi giới mại dâm" theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hoàng Thị L từ 6 đến 10 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Tịch thu số tiền 500.000 đồng của H, 500.000 đồng và 2 điện thoại di động của L do có liên quan đến vụ án, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, đơn trình báo, vật chứng thu được, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Khoảng đầu tháng 11/2024, do có nhu cầu bán dâm, Hoàng Thị L thuê một đối tượng (chưa xác định nhân thân) đăng các hình ảnh khiêu dâm của mình và Phùng Thị H lên trang “xcheckerviet.vc” để quảng cáo bán dâm với giá 300.000 đồng/lượt. L là người quản lý số điện thoại của H, khi có khách liên hệ mua dâm, L sẽ báo cho H. Mỗi lần H bán dâm sẽ phải chia lại cho L 100.000 đồng là tiền công môi giới.
Ngày 20/12/2024, với thủ đoạn như trên Lệ đã bán dâm cho Nguyễn Đức T1 tại nhà nghỉ G1 với giá 500.000 đồng và môi giới cho H đến nhà nghỉ Đ bán dâm cho Vũ Hà P với giá 500.000 đồng. Khi L và H đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận Đ kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội. Nên cần phải xử phạt nghiêm.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội thể hiện sự ăn năn hối cải. Nên HĐXX áp dụng điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- [3] Xét thấy, bị cáo không có điều kiện kinh tế, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự.
- [4] Về vật chứng: tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng, (trong đó của H 500.000 đồng, của L 500.000 đồng) và 02 chiếc điện thoại của L do có liên quan đến hành vi phạm tội.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội "Môi giới mại dâm".
Áp dụng khoản 1 Điều 328; Điều 38; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.
- Xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo:
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 135, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tịch thu sung quỹ công Nhà nước:
- Số tiền 1.000.000 đồng của Hoàng Thị L và Phùng Thị H theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1049185 ngày 28/02/2025 tại kho bạc nhà nước quận Đ, đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa.
- 01 điện thoại di động nhãn Redmi màu vàng, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel, màu đen viền đỏ, đã qua sử dụng;
theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 152 ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết về những vấn đề trực tiếp liên quan./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Công Xây |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA về hình sự (môi giới mại dâm)
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 328; Điều 38; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
