Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 59/2025/HS-ST

Ngày: 19-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh

Thẩm phán: Bà Đào Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi

Bà Lê Thị Thuý Hằng

Ông Nguyễn Trọng Thuý

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Thị Kim N; Sinh năm 1954; CMND số [...]

Nơi thường trú: Thôn D xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi ở hiện nay: TDP T, phường T, TP P, tỉnh Hà Nam;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 10/10; Nghề nghiệp: Cán bộ Công an nghỉ hưu; Con ông Vũ Văn S (đã chết); Con bà Lê Thị T (đã chết); Gia đình có 11 anh chị em, bị cáo là con thứ 10; Có chồng là Hoàng Văn C (đã chết); Có 02 con, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1982;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 28/6/2024 đến ngày 01/7/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Hồng L - Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh T. Địa chỉ: Số E Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị L1 (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bà L1: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1991 Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

  1. Bà Ngô Thị D, sinh năm 1969, Địa chỉ: SN D ngô T, phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
  2. Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1972; Địa chỉ: SN C đường H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962; (Vắng mặt) Địa chỉ: S phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thị Kim N, sinh năm 1954, quê quán: xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, ĐKHKTT: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là cán bộ Công an công tác tại Công an tỉnh T nghỉ hưu năm 1992. Trước năm 2010, thông qua mối quan hệ xã hội, Vũ Thị Kim N quen biết với bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962, ở Số nhà D phố B, phường T, TP .. Quá trình tiếp xúc, N giới thiệu với bà T2 là bản thân là cán bộ Công an về hưu, có các mối quan hệ quen biết, là bạn học với lãnh đạo trong ngành Công an nên có thể xin được vào biên chế ngành Công an. Tin tưởng lời N nói là thật nên bà T2 đã giới thiệu cho 03 gia đình, gồm: gia đình bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1964, nơi thường trú: Tiểu khu C, thị trấn V, T, tỉnh Thanh Hóa; gia đình bà Ngô Thị D, sinh năm 1969, nơi thường trú: 04C ngõ T, phố Đ, phường L, TP ., tỉnh Thanh Hóa và gia đình bà Ngô Thị T1, sinh năm 1972, nơi thường trú: SN353 đường H, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa gặp N đặt vấn đề xin cho con của họ vào biên chế ngành Công an. Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2010 đến năm 2014, các gia đình bị hại Hoàng Thị L2, Ngô Thị D, Ngô Thị T1 đã nhiều lần đưa cho Vũ Thị Kim N với tổng số tiền 1.230.000.000đ, mục đích để N xin cho con của họ vào ngành Công an. Tuy nhiên, N không xin được việc, không trả lại tiền cho các bị hại, cụ thể:

  1. Bị hại Hoàng Thị L2, sinh năm 1964, nơi thường trú: Tiểu khu C, thị trấn V, T, tỉnh Thanh Hóa (do vợ chồng bà L2 đã chết nên anh Nguyễn Xuân H là người đại diện hợp pháp).

    Năm 2010, bà Hoàng Thị L2 có con trai là anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1991 tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng không thi đậu đại học. Thông qua người quen, gia đình bà L2 có nghe thông tin bà Nguyễn Thị T2 có thể giúp xin được vào ngành Công an nên gia đình bà L2 đến nhà bà T2 nhờ bà T2 giúp xin cho anh H vào ngành Công an. Khi đó bà T2 quen Vũ Thị Kim N, được N giới thiệu có nhiều mối quan hệ có thể xin được vào ngành Công an nên bà T2 đã giới thiệu Vũ Thị Kim N với gia đình bà L2. Khi gia đình bà L2 gặp N thì N giới thiệu có quen biết một số lãnh đạo ngành Công an, tin tưởng nên bà L2 nhờ N xin cho anh H vào ngành Công an thì N đồng ý giúp.

    Tháng 11/2010 Vũ Thị Kim N đã hướng dẫn anh H đăng ký đi nghĩa vụ Công an Nhân dân và yêu cầu gia đình bà L2 đưa số tiền 130.000.000 đồng để lo việc nên trong tháng 11/2010, anh H cùng gia đình đã giao cho N số tiền 130.000.000₫ (không viết biên nhận- N thừa nhận và có anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1956, trú tại SN 203, QL45, Tiểu khu A, TT V, huyện T chứng kiến). N hướng dẫn anh H làm các thủ tục chuyển khẩu vào hộ khẩu của N tại xã Y, huyện Y, Ninh Bình và hướng dẫn anh H đăng ký đi nghĩa vụ tại Công an tỉnh N. N không liên hệ nhờ ai việc này nhưng ngày 24/02/2011, anh H vẫn đủ điều kiện và có giấy báo được đi nghĩa vụ tại Phòng Cảnh sát Cơ động và Bảo vệ Công an tỉnh N.

    Đến tháng 07/2013, sắp hết thời gian nghĩa vụ, N bảo anh H làm hồ sơ đăng ký vào trường Công an nhân dân và yêu cầu gia đình đưa thêm 50.000.000đ. Anh H và gia đình đã đưa cho N 50.000.000đ (không viết biên nhận- N thừa nhận và có anh Hoàng Văn N1, sinh năm 1961, trú tại Tiểu khu F TT V, huyện T chứng kiến). Tuy nhiên, kết quả anh H đi thi không đậu trường nào.

    Đến cuối tháng 3/2014, anh H nhận quyết định ra quân. Gia đình bà L2 hỏi thì N hẹn đợi gọi bổ sung biên chế đợt 2 và yêu cầu đưa thêm 250.000.000đ để lo việc. Tin tưởng N nên ngày 01/4/2014 gia đình bà L2 giao cho N 150.000.000đ (có giấy biên nhận) và ngày 04/4/2014 gia đình bà L2 giao tiếp cho N 100.000.000₫ (có giấy biên nhận). Tuy nhiên, đợt 2 anh H vẫn không được biên chế vào ngành Công an. N lại hứa hẹn sẽ xin cho anh H vào Công an T6 hoặc Bộ tư lệnh cảnh sát cơ động Bộ C1. Đợi mãi không có thông tin gì, gia đình bà L2 hỏi thì N lại hứa hẹn sẽ xin cho anh H vào biên chế Trại giam S1 Bộ C1. Để tạo lòng tin cho gia đình bị hại, mỗi lần đưa ra thông tin xin vào đơn vị nào thì bị can N lại đưa cho anh H một bộ hồ sơ yêu cầu kê khai nhưng sau khi hoàn thiện hồ sơ thì N không đưa cho ai. Sau nhiều lần nhận tiền và hứa hẹn nhưng không có kết quả, gia đình anh H đã yêu cầu trả lại tiền nhưng N không trả sau đó ngắt liên lạc bỏ trốn khỏi địa phương.

    Như vậy, Vũ Thị Kim N đã chiếm đoạt của bà L2 số tiền 430.000.000đ. Ngày 13/12/2024 anh Vũ Trung K (là con trai N) bồi thường cho anh H số tiền 10.000.000đ. N còn chiếm đoạt của bà L2 số tiền 420.000.000đ.

  2. Bị hại Ngô Thị D, sinh năm 1969, nơi thường trú: 04C ngõ T, phố Đ, phường L, TP., tỉnh Thanh Hóa

    Khoảng cuối năm 2013, bà Ngô Thị D có con trai là Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1991 nhập ngũ tháng 02/2011, là chiến sĩ nghĩa vụ tại Công an TX.B, tỉnh Bình Dương, đến tháng 04/2014 sẽ xuất ngũ và đang có nhu cầu được biên chế vào ngành Công an. Bà D có quen biết bà Nguyễn Thị T2 nên bà T2 đã giới thiệu bà D liên hệ với N để xin cho anh Nguyễn Hữu D1 vào biên chế ngành Công an.

    Bà D đã nhờ bà T2 trao đổi trước với N thì N yêu cầu xin cho con trai bà D vào biên chế Công an ở tỉnh Bình Dương hết 200.000.000đ. Bà T2 báo lại với bà D thì gia đình bà D đồng ý. Ngày 26/01/2014, bà D và bà T2 đã đến nhà bà N ở thôn D, xã X, huyện T giao cho bà N số tiền 200.000.000đ. N hẹn đến tháng 02/2014, khi hết thời gian nghĩa vụ anh D1 sẽ được biên chế.

    Trong năm cuối đi nghĩa vụ thì anh Nguyễn Hữu D1 có làm hồ sơ đăng ký thi vào trường Công an nhưng không đỗ. Khi hết thời gian nghĩa vụ anh D1 vẫn phải xuất ngũ, không được vào biên chế ngành Công an. Bà D đã yêu cầu N trả lại tiền thì N nói để vào Bình Dương xem tình hình thế nào. Khoảng một tháng sau thì N nói là anh Dương T4 được điểm thấp không đủ để xét biên chế đợt đầu, nên để xét đợt 2. Sau đó, N vào tỉnh Bình Dương và bảo anh D1 chở đến nhà ông Trương Tân D2 khi đó là Trưởng Công an thị xã B để nhờ ông D2 giúp xin cho anh D1 vào Công an tỉnh B nhưng ông D2 từ chối do không có chức trách nhiệm vụ mà chỉ giới thiệu N đến Phòng Tổ chức cán bộ Công an tỉnh B để liên hệ. Sau đó, N bảo anh D1 chở đến trụ sở công an tỉnh B, N đi vào trong còn anh D1 chờ bên ngoài. Kết quả xác minh, Phòng tổ chức cán bộ Công an tỉnh B đã có công văn phúc đáp cung cấp thông tin N không có giao dịch gì với đơn vị trong việc xin xét cho anh D1 vào ngành Công an.

    Chờ mãi không xin được, bà D đòi lại tiền thì N bảo để xin cho anh D1 vào biên chế Cảnh sát cơ động ở Hà Nội và phải thêm 250.000.000₫ nữa. Bà D vẫn tin tưởng N nên đồng ý. Ngày 03/09/2014, bà D đưa tiếp cho N 250.000.000đ. N đã viết giấy nhận tiền gộp cả số tiền 200.000.000đ trước đó thành tổng 450.000.000đ, có nội dung: “để xin cho cháu D1 biên chế vào Bộ tư lệnh Cảnh sát cơ động”- đã giám định, kết quả: chữ ký chữ viết trong giấy nhận tiền do N viết và ký ra.

    Sau đó, N có dẫn bà D đến nhà ông Bùi Văn N2 lúc đó là Thứ trưởng Bộ C1 tại Hà Nội, bà D và N vào nhà thì ông N2 chuẩn bị đi công tác, N và ông Bùi Văn N2 chỉ chào hỏi xã giao nhau rồi ông N2 đi công tác luôn sau đó thì N và bà D ra về. N không đặt vấn đề hoặc đưa tiền, tài sản gì cho ông N2 để xin cho anh D1 vào ngành Công an. Không xin được việc, bà D yêu cầu trả lại tiền thì N khất hẹn nhiều lần sau đó bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Như vậy, Vũ Thị Kim N đã chiếm đoạt của bà D số tiền 450.000.000₫.

  3. Bị hại Ngô Thị T1, sinh năm 1972, nơi thường trú: SN353 đường H, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa

    Quá trình bà Ngô Thị D nhờ Vũ Thị Kim N xin cho anh Nguyễn Hữu D1 vào ngành Công an, bà D đã kể việc này với em ruột là bà Ngô Thị T1. Khi đó, bà T1 có con gái là Đặng Thị N3, sinh năm 1996 chuẩn bị thi đại học cũng có nguyện vọng được vào ngành Công an nên đã xin số điện thoại liên lạc với Vũ Thị Kim N. Tháng 5/2014, bà T1 gọi điện cho N giới thiệu là em gái bà D và trình bày nguyện vọng muốn xin cho chị Đặng Thị N3 vào học tại trường C2 thì N3 đồng ý.

    N3 nói xin cho chị Đặng Thị N3 vào học tại trường Công an hết số tiền là 350.000.000đ, yêu cầu phải đưa trước 150.000.000đ, số tiền còn lại khi nào xin được thì sẽ giao nốt. Tháng 5/2014, bà T1 cùng với bà D đến nhà N3 tại Thôn D, xã X, T, Thanh Hóa giao N3 150.000.000đ (có giấy biên nhận).

    Đến tháng 7/2014, bà T1 đưa chị Đặng Thị N3 đi thi đại học vào trường H1, điểm thi tại huyện S thì N3 có đi cùng. Sau đó, chị Đặng Thị N3 tham gia kỳ thi bình thường, thi xong ước lượng không đủ điểm đỗ thì N3 nói nếu không đậu được Học viện thì sẽ xin cho chị N3 vào trường T7 vì N3 có bạn là hiệu trưởng của trường. Sau đó, N3 đến trường T7 gặp ông Nguyễn Hùng T5 (là bạn học cùng lớp đại học) khi đó đang là Hiệu trưởng của trường để hỏi có thể xin được biên chế vào ngành Công an hoặc vào học tại trường Công an hay không thì ông T5 trả lời phải theo các quy định, quy trình tuyển dụng của Bộ C1 nên không xin được, N3 không đề cập đến vấn đề xin cho ai vào ngành hoặc đưa hồ sơ, tài sản gì cho ông T5.

    Khoảng giữa tháng 7/2014, N3 gọi điện cho bà T1 và nói “ngoài kia người ta đồng ý rồi giờ phải giao nốt số tiền còn lại”. Ngày 20/7/2014, bà T1 đưa tiếp cho N3 số tiền 200.000.000đ tại nhà hàng D3, đường P, TP ., khi giao tiền có mặt bà D và bà T2. Bà N3 đã lấy lại giấy viết nhận số tiền 150.000.000₫ lần đầu và viết lại giấy nhận tiền mới cho bà T1 với nội dung: “nhận 350.000.000đ của bà T1 xin cho cháu Đặng Thị N3 vào biên chế Công an, nếu sai sẽ hoàn trả vào cuối tháng 10/2014” - đã giám định, kết quả: Chữ ký, chữ viết trên giấy nhận tiền là do N3 viết và ký ra. Tuy nhiên, kết quả N3 không thực hiện được. Đến ngày 01/4/2015, sau nhiều lần đòi tiền, N3 đã viết cho bà T1 một giấy hẹn đến ngày 05/4/2015 sẽ trả tiền, nhưng đến hẹn N3 vẫn không trả lại tiền mà cắt liên lạc với bà T1, bỏ trốn.

    Như vậy, Vũ Thị Kim N đã chiếm đoạt của bà T1 số tiền 350.000.000đ.

Tại cáo trạng số 22/CT-VKS-P2, ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Vũ Thị Kim N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm o,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Kim N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 11 năm đến 12 năm tù.

Về phần dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Vũ Thị Kim N phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bà Hoàng Thị L2 420.000.000đ, bà Ngô Thị D 450.000.000đ và bà Ngô Thị T1 350.000.000₫.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo với lý do bị cáo là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra và bồi thường một phần nhỏ số tiền chiếm đoạt cho bị hại; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người trên 70 tuổi và có thành tích xuất sắc trong công tác; Gia đình bị cáo là người có công với Cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi các bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Thị Kim N đã thừa nhận:

Vũ Thị Kim N có thủ đoạn gian dối như đưa ra thông tin có các mối quan hệ quen biết, là bạn học với lãnh đạo trong ngành Công an nên có thể xin được vào biên chế ngành Công an. Tin tưởng lời N nói là thật nên bà T2 đã giới thiệu cho 03 gia đình, gồm: Bà Hoàng Thị L2, bà Ngô Thị D và bà Ngô Thị T1 gặp N để đặt vấn đề xin cho con của họ vào biên chế ngành Công an. Tuy nhiên sau đó N không xin được việc, không trả lại tiền cho các bị hại.

Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2010 đến năm 2014, N đã chiếm đoạt số tiền của 03 bị hại, với tổng số tiền 1.230.000.000đ, gồm: bà Hoàng Thị L2 430.000.000đ, bà Ngô Thị D 450.000.000đ, bà Ngô Thị T1 350.000.000đ.

Tổng số tiền chiếm đoạt, anh Vũ Trung K (là con trai N) đã thay N khắc phục cho anh Nguyễn Xuân H (là người đại diện hợp pháp của bà Hoàng Thị L2) số tiền 10.000.000₫.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước ngày 01/01/2018 nên Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, hành vi của bị cáo Vũ Thị Kim N phải áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để giải quyết. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Vũ Thị Kim N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng do khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 ngang bằng nhau nên Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Vũ Thị Kim N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

[3] Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết về pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã dùng thủ đoạn gian dối, nói có khả năng xin cho người thân của các bị hại vào ngành Công an nhằm chiếm đoạt tài sản của các cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã đầu thú khai báo hành vi phạm tội. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường một phần nhỏ số tiền chiếm đoạt; Các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Trong quá trình công tác bị cáo được Công an tỉnh T tặng Bằng khen, được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang; Bị cáo có hai anh trai là Liệt sĩ và mẹ đẻ là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm m,p,s khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người cao tuổi, hiện đang bị tạm giam, nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về phần dân sự: Bị cáo phải có trách nhiệm trả cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 1.220.000.000đ, gồm: Bà Hoàng Thị L2 420.000.000đ, bà Ngô Thị D 450.000.000đ, bà Ngô Thị T1 350.000.000đ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng do bị cáo là người cao tuổi, tại phiên toà bị cáo xin HĐXX miễn án phí cho bị cáo. Do đó bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 139; Điểm m,p,s khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Kim N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Kim N 12 (Mười hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Vũ Thị Kim N phải trả cho các bị hại số tiền 1.220.000.000₫ gồm:

  • Trả cho người đại diện hợp pháp của bà Hoàng Thị L2 số tiền 420.000.000₫ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng);
  • Trả cho bà Ngô Thị D 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng);
  • Trả cho bà Ngô Thị T1 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi ngàn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng đối với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán, theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQ CSĐT CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HSVA; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 59/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Kim Nhung phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger