|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/HS-ST
Ngày 13-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Đỗ Xuân Quyết
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 259/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Thông báo đổi thời gian mở phiên tòa số 88/TB-TA ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh ngày 06 tháng 03 năm 1988 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Tổ dân phố Q, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A đường T, phường V, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc L và bà Đặng Thị L1; có chồng là Ngô Quý K, sinh năm 1975 (đã ly hôn); có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/03/2024; có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/3/2024, Nguyễn Thị H đến Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố H để tự thú về hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng (viết tắt là GTGT) thu lợi bất chính và giao nộp các đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng gồm: 04 chữ ký số (token) của Công ty TNHH T8, MSDN 0202058228; Công ty TNHH T9, MSDN 0202097795; Công ty TNHH T10, MSDN 0202060040; Công ty TNHH T11, MSDN 0202109264 là các công ty H7 thực hiện việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT.
Quá trình điều tra đã xác định được hành vi phạm tội của Nguyễn Thị H như sau:
Từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 12 năm 2022, Nguyễn Thị H tự thành lập và mua lại 10 công ty, gồm:
- Công ty TNHH T12, MSDN 0201618325 (Công ty T12), địa chỉ trụ sở: Số D đường L, phường C, quận N, Hải Phòng và đăng ký địa điểm kinh doanh tại số B đường T, xã A, huyện A, Hải Phòng. Những người đứng tên giám đốc công ty là Nguyễn Thị H; Vũ Bá T, sinh năm 1983, chỗ ở tại Khu C, phường B, thành phố M, Quảng Ninh; Phạm Văn H1, sinh năm 1989, chỗ ở tại thôn N, xã T, huyện K, Hải Phòng.
- Công ty TNHH Đ1, MSDN 0201818099 (Công ty Đ1), địa chỉ trụ sở: Số C đường P, phường A, quận D, Hải Phòng sau đó chuyển đăng ký trụ sở tại Lô A Đ, phường T, quận H, Hải Phòng. Những người đứng tên giám đốc công ty Đ1 là Nguyễn Khắc L2, sinh năm 1986, nơi thường trú tại Tổ dân phố Q, phường M, quận Đ, Hải Phòng; Nguyễn Quang H2, sinh năm 1993, nơi thường trú tại Thôn P, xã V, huyện K, Thái Bình. Cổ đông Công ty Đ1 là Nguyễn Thị L3, sinh năm 1978, nơi thường trú tại Tổ dân phố P, phường A, quận D, Hải Phòng.
- Công ty TNHH T8, MSDN 0202058228 (Công ty T8), địa chỉ trụ sở: Số I T, phường H, quận D, Hải Phòng sau đó chuyển đăng ký trụ sở tại số A P, phường H, quận D, Hải Phòng. Những người đứng tên giám đốc Công ty T8 là Chu Văn T1, sinh năm 1980, nơi thường trú tại số C đường P, phường N, quận L, Hải Phòng; Chu Thị Thu H3, sinh năm 1990, nơi thường trú tại Tổ D khu E, phường H, thành phố H, Quảng Ninh, chỗ ở hiện tại lô 10A thửa số C, đường Đ, phường T, quận H, Hải Phòng.
- Công ty TNHH T10, MSDN 0202060040 (Công ty T10), địa chỉ trụ sở số C tổ dân phố C, phường H, quận D, Hải Phòng. Những người đứng tên giám đốc Công ty T10 là Đỗ Mạnh C, sinh năm 1990, nơi thường trú tại Tổ A, phường H, quận D, Hải Phòng; Phạm Đức T2, sinh năm 1984, nơi thường trú tại Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, Hải Phòng.
- Công ty TNHH T11, MSDN 0202109264 (Công ty T11), địa chỉ trụ sở: số F tổ dân phố B, phường H, quận D, Hải Phòng. Giám đốc Công ty là Phạm Thị H4, sinh năm 1965, nơi thường trú tại thôn D, xã H, huyện K, Thái Bình.
- Công ty TNHH T8, MSDN 0202071726 (Công ty T8), địa chỉ trụ sở: Số C đường P, phường H, quận D, Hải Phòng. Giám đốc Công ty T8 là Lê Tuấn K1, sinh năm 1984, nơi thường trú tại Tổ dân phố D, phường H, quận Đ, Hải Phòng.
- Công ty TNHH T9, MSDN 0202097795 (Công ty T9), địa chỉ trụ sở tại Lô S, thửa số C khu Đ, phường T, quận H, Hải Phòng, sau đó chuyển trụ sở đến số C P, phường H, quận D, Hải Phòng. Giám đốc Công ty T9 là Phạm Thị H5, sinh năm 1992, nơi thường trú tại Thôn L, xã T, huyện V, Hải Phòng. Sau đó thay đổi giám đốc sang ông Nguyễn Khắc L, sinh năm 1966, nơi thường trú tại Tổ dân phố Q, phường M, quận Đ, Hải Phòng
- Công ty TNHH T13, MSDN 0202039994 (Công ty T13), địa chỉ trụ sở: Số A đường V, phường V, quận N, Hải Phòng. Giám đốc Công ty T13 là Bùi Văn T3, sinh năm 1986, nơi thường trú tại Khu dân cư T, phường T, quận D, Hải Phòng.
- Công ty TNHH T8, MSDN 0201319396 (Công ty T8), địa chỉ trụ sở: Số A đường Đ, phường V, quận N, Hải Phòng. Những người đứng tên giám đốc Công ty T8 là Đỗ Thị T4, sinh năm 1981, nơi thường trú tại B đường Đ, phường C, quận N, Hải Phòng; Cao Văn L4, sinh năm 1985, nơi thường trú tại Tổ dân phố Q, phường M, quận Đ, Hải Phòng.
Ngoài ra, tháng 7/2020 H4 thuê Nguyễn Văn B làm thủ tục thành lập Công ty TNHH T14, MSDN 0202039962 (Công ty T14), địa chỉ trụ sở: Số E đường A, phường L, quận N, Hải Phòng. Giám đốc Công ty T14 là Lê Tuấn K1, sinh năm 1984, nơi thường trú tại Tổ dân phố D, phường H, quận Đ, Hải Phòng.
Ngoài Công ty T14 chưa đi vào hoạt động, chưa phát sinh giao dịch gì và chưa nộp khoản tiền thuế nào, còn lại 09 công ty trên không có hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thực tế nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 12/2022, Nguyễn Thị H đã xuất bán trái phép 6.027 hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 2.010.356.200.160 đồng, cụ thể: 908 số hóa đơn của Công ty T12 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 334.689.329.223 đồng; 1.940 số hóa đơn của Công ty T8 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 511.185.672.613 đồng; 673 số hóa đơn của Công ty Đ1 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 150.932.717.952 đồng; 1741 số hóa đơn của Công ty T8 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 461.141.680.667 đồng; 380 số hóa đơn của Công ty T10 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 206.141.899.047 đồng; 78 số hóa đơn của Công ty T11 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 70.486.258.090 đồng; 230 số hóa đơn của Công ty T8 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 197.570.815.864 đồng; 27 số hóa đơn của Công ty T9 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 14.913.281.250 đồng; 50 số hóa đơn của Công ty T13 ghi khống số tiền hàng hóa dịch vụ chưa thuế là 63.294.545.454 đồng.
Để hợp thức hóa cho việc kê khai đầu vào của 09 công ty trên, Nguyễn Thị H không mua hóa đơn GTGT mà kê khai khống số tiền hàng hóa dịch vụ đầu vào để làm và nộp báo cáo cho cơ quan thuế quản lý các công ty trên.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận: Từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 6 năm 2021 H đã mua lại và thuê Nguyễn Văn B, sinh năm 1965, nơi thường trú tại thôn H, xã A, huyện A, Hải Phòng (B đã chết vào tháng 01/2021) thành lập 10 công ty trên để thực hiện việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT. Sau đó, toàn bộ hóa đơn, con dấu và các tài liệu có liên quan của các công ty này H để ở nhà H tại số A Trực C, phường V, quận L, Hải Phòng. Để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện, bản thân H đã học chuyên ngành kế toán và tốt nghiệp trường Cao đẳng B1 và chứng chỉ kế toán tổng hợp của trường Đại học K3 nên H trực tiếp thực hiện các công việc kế toán như đi giao dịch ngân hàng, xuất hóa đơn GTGT, soạn thảo hợp đồng kinh tế, làm và nộp báo cáo thuế. Đối với công ty sử dụng hóa đơn điện tử: Hoa tự lập khống nội dung hóa đơn điện tử và sử dụng T5 (chữ ký số) rồi gửi vào trang web của cơ quan quản lý thuế để phát hành; đối với hóa đơn giấy, H viết khống nội dung vào hóa đơn có sẵn chữ ký giám đốc đóng dấu công ty, dấu chức danh giám đốc trên hóa đơn, hợp đồng, chứng từ ngân hàng. Hàng tháng, quý, H tự cân đối lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra rồi kê khai số tiền hàng hóa dịch vụ mua vào tương ứng, sau đó sử dụng USB chữ ký số để kê khai báo cáo cơ quan thuế. Hóa đơn GTGT của 09 công ty nêu trên, H bán thông qua một số đối tượng có tên H5, N, Đ, K2, M, C (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) chỗ ở tại Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội, Thanh Hóa... Khi có khách cần mua hóa đơn GTGT thì những người môi giới sẽ cung cấp cho H các thông tin như: Tên công ty mua hóa đơn, mã số thuế, địa chỉ công ty, chủng loại hàng hóa, dịch vụ, số lượng, đơn giá, số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế, tiền thuế GTGT sau đó H tiến hành viết, lập nội dung hóa đơn, hợp đồng rồi giao lại cho người môi giới bán trái phép hóa đơn GTGT. Các loại chứng từ khác như giấy rút tiền, giấy giới thiệu, giấy A4 đều chưa ghi nội dung và được ký sẵn chữ ký của giám đốc và được H đóng dấu công ty, dấu chức danh giám đốc và giao lại cho những người trên sau đó chuyển xe ôm hoặc xe khách để chuyển cho các đối tượng môi giới.
Để thực hiện giao dịch ngân hàng chuyển khoản để hợp thức hóa việc bán trái phép hóa đơn GTGT thì có lần H là người thực hiện, có lần thông qua những người môi giới, H chuyển giấy giới thiệu, giấy rút tiền đã có sẵn chữ ký giám đốc đã đóng sẵn dấu của các công ty và nội dung để người môi giới tự ghi cho phù hợp với số tiền kê trên hóa đơn GTGT, hợp đồng mua bán giữa 2 công ty, sau đó người môi giới tự đi giao dịch ngân hàng.
Ngoài ra, từ tháng 01/2022 tại Hải Phòng triển khai việc sử dụng hoá đơn điện tử, mỗi giao dịch chuyển rút tiền tại các ngân hàng thì H đều yêu cầu ngân hàng xuất hoá đơn cho các công ty của H. Đồng thời số tiền H đặt in hoá đơn điện tử thì H đều kê khai vào báo cáo thuế đầu vào của các công ty: Công ty T8, Công ty T11, Công ty T10, Công ty T9.
Quá trình hoạt động, H đã xuất bán trái phép hóa đơn GTGT ở các công ty KIHIN, H, Phương L5, Thuận N1 với giá 0,1%/01 tỷ đồng tiền hàng hoá dịch vụ; công ty T8, H, D, Tuấn P, Hải M1 với giá 0,15%/01 tỷ đồng tiền hàng hóa dịch vụ ghi khống trên hóa đơn thu được số tiền là 2.485.483.168 đồng (trong đó Công ty T12 thu được 334.689.329 đồng; Công ty T8 thu được 511.185.673 đồng; Công ty Đ1 thu được 150.932.718 đồng; Công ty T13 thu được 63.294.545 đồng; Công ty T8 thu được 691.712.521 đồng; Công ty T10 thu được 309.212.849 đồng; Công ty D được 105.729.387 đồng; Công ty T8 thu được 296.356.224 đồng; Công ty T9 thu được 22.369.922 đồng). Do tự kê khai để hợp thức hóa đầu vào nên H không phải chi phí tiền mua hóa đơn.
Để phục vụ việc bán trái phép hóa đơn GTGT, Nguyễn Thị H đã thuê dịch vụ thành lập công ty và mua lại các công ty hết tổng số tiền là 450.000.000 đồng. Ngoài ra, các công ty trên phải nộp thuế hết tổng số tiền là 1.593.455.113 đồng, gồm: Công ty T12 nộp thuế là 132.050.565 đồng; Công ty T8 nộp 263.796.916 đồng; Công ty Đ1 nộp 37.074.279 đồng; Công ty T8 nộp 509.247.846 đồng; Công ty T10 nộp 320.938.695 đồng; Công ty T11 nộp 97.619.645 đồng; Công ty T8 nộp 211.705.767 đồng; Công ty T9 nộp 21.019.400 đồng; Công ty T13, Vinh M2 chưa nộp tiền thuế. Để đặt in hóa đơn, giao dịch ngân hàng H8 còn phải chỉ 94.074.252 đồng. Tổng cộng các chi phí H phải chỉ là 2.137.529.365 đồng.
Như vậy, từ việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT tại 09 công ty trên, Nguyễn Thị H thu được số tiền là 2.485.483.168 đồng. Sau khi trừ chi phí cho hoạt động của các công ty với tổng số tiền là 2.137.529.365 đồng, H thu lợi bất chính được số tiền là 347.953.803 đồng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập ghi lời khai của những người đứng tên giám đốc công ty gồm: Cao Văn L4 giám đốc công ty T8; Nguyễn Khắc L2, Nguyễn Thị L3, Nguyễn Quang H2 giám đốc Công ty Đ1; Chu Văn T1, Chu Thị Thu H3 giám đốc Công ty T8; Phạm Đức T2 giám đốc Công ty T10; Phạm Thị H4 giám đốc Công ty T11; Lê Tuấn K1 giám đốc Công ty T8 và Công ty T14; Phạm Thị H5, Nguyễn Khắc L giám đốc Công ty T9; Bùi Văn T3 giám đốc Công ty T13 đều khai không biết mình đứng tên giám đốc công ty, không đi thành lập và không biết gì về hoạt động của công ty. Vũ Bá T, Phạm Văn H1 giám đốc Công ty T12 tại thời điểm cơ quan điều tra xác minh đã vắng mặt tại địa phương chưa ghi được lời khai.
Những người đứng tên kế toán trưởng trong tài khoản các công ty, gồm: Đỗ Kim P1 sinh năm 1996, nơi thường trú tại Tổ A, phường H, quận D, Hải Phòng của Công ty T8; Nguyễn Thị L3 sinh năm 1978, nơi thường trú tại Tổ dân phố P, phường A, quận D, Hải Phòng của Công ty Đ1; Lê Tấn V sinh năm 1993, noi thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình của Công ty T13; Chu Thanh T6 sinh năm 1987, nơi thường trú tại Tổ D khu E phường H, thành phố H, Quảng Ninh của Công ty T14; Đỗ Anh T7 sinh năm 1993, nơi thường trú tại Tổ T, phường A, quận D, Hải Phòng của Công ty T8; Chu Thị Thu H3 sinh năm 1990, nơi thường trú tại Tổ D khu E, phường H, thành phố H, Quảng Ninh, chỗ ở hiện tại phường T, quận H, Hải Phòng của Công ty T9 đều khai không biết gì về việc bản thân đứng tên kế toán trưởng của các công ty trên để thực hiện hành vi mua bán trái phép hoá đơn GTGT.
Lời khai của Nguyễn Thị H phù hợp với lời khai của những người đứng tên giám đốc các công ty, những người đứng tên kế toán trưởng, tài liệu xác minh phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do đó đủ cở sở xác định: Nguyễn Thị H có hành vi bán trái phép 6.027 tờ hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 2.010.356.200.160 đồng tại 09 công ty, sau khi trừ các chi phí, Nguyễn Thị H đã thu lợi bất chính số tiền là 347.953.803 đồng.
Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh được 90 công ty kê khai sử dụng hóa đơn GTGT của 09 công ty trên. Kết quả, lấy lời khai được đại diện 80 công ty trình bày đã mua hàng hóa, dịch vụ có thật, được xuất hóa đơn GTGT và các chứng từ kèm theo; 02 công ty không kê khai sử dụng hóa đơn của các công ty do Nguyễn Thị H kê xuất bán ra; 03 công ty giám đốc khai được thuê làm thủ tục thành lập công ty và không biết gì về hoạt động của công ty; 13 giám đốc công ty vắng mặt tại địa phương chưa ghi được lời khai.
Vật chứng của vụ án: 01 chữ ký số (token) của Công ty TNHH T8, MSDN 0202058228; 01 chữ ký số (token) của Công ty TNHH T9, MSDN 0202097795; 01 chữ ký số (token) của Công ty TNHH T10, MSDN 0202060040; 01 chữ ký số (token) của Công ty TNHH T11, MSDN 0202109264 chuyển Cơ quan thi hành án dân sự thành phố chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 262/CT-VKS-P1 ngày 29 tháng 11 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b, d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Đối với giám đốc và kế toán trưởng của các Công ty T8, Phương L5, Toàn P2, H, D, Tuấn P, Hải M1, Thuận N1 khai không biết, không liên quan đến hoạt động mua bán trái phép hóa đơn của những công ty trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với những người đứng tên giám đốc, kế toán, những người đứng tên thực hiện các giao dịch ngân hàng các công ty gồm: Vũ Bá T, sinh năm 1983, chỗ ở tại Khu C, phường B, thành phố M, Quảng Ninh; Phạm Văn H1, sinh năm 1989, chỗ ở tại thôn N, xã T, huyện K, Hải Phòng; Đỗ Mạnh C, sinh năm 1990, nơi thường trú tại Tổ A phường H, quận D, Hải Phòng; Đỗ Thị T4, sinh năm 1981, nơi thường trú tại số B Đà Nẵng, phường C, quận N, Hải Phòng; Bùi Văn C1, sinh năm 1989, nơi thường trú tại xóm A, xã Y, huyện Y, Hòa Bình; Đặng Thị Ngọc H6, sinh năm 1988, nơi thường trú tại Ấp F, xã B, huyện G, Tây Ninh hiện vắng mặt tại địa phương chưa ghi được lời khai, Cơ quan điều tra tách tài liệu để tiếp tục xác minh, làm rõ sau.
Đối với các công ty liên quan đến việc mua bán trái phép hóa đơn của 09 công ty trên hiện chưa xác minh được, Cơ quan điều tra đã tách tài liệu để tiếp tục điều tra, làm rõ sau.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b, d, đ khoản 2 Điều 203; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước;
- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H từ 200 – 250 triệu đồng;
- Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo;
- Về xử lý vật chứng: Các sổ sách, chứng từ, hóa đơn liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo được lưu trong hồ sơ vụ án nên không đặt ra vấn đề giải quyết. Đối với vật chứng của vụ án, căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy đối với các USB token thu giữ trong quá trình điều tra.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh và khung hình phạt:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định: Trong thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 12/2022, Nguyễn Thị H có hành vi bán trái phép 6.027 tờ hóa đơn GTGT, ghi khống số tiền hàng hóa, dịch vụ chưa thuế là 2.010.356.200.160 đồng tại 09 công ty: KIHIN, H, Phương L5, T, H, D, Tuấn P, H, T. Sau khi trừ các chi phí, Nguyễn Thị H đã thu lợi bất chính số tiền là 347.953.803 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước với các tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp; hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm b, d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
[4] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
- Về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Bị cáo tự nguyện ra tự thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về số tiền thu lợi bất chính:
[6] Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước là 347.953.803 đồng. Bị cáo đã nộp lại đủ số tiền thu lợi bất chính tại giai đoạn điều tra theo Ủy nhiệm chi ngày 25/11/2024 tại Kho bạc Nhà nước H9 và Biên lai thu tiền số 0001342 ngày 11/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Về quyết định hình phạt:
[7] Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước, làm thất thu ngân sách Nhà nước. Tại phiên tòa, bị cáo có nguyện vọng đề nghị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Thực tế, bị cáo tự nguyện nộp một khoản tiền tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng để chứng minh khả năng tài chính, bảo đảm cho việc thi hành hình phạt chính là phạt tiền. Do đó, áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật được quy định tại Điều 35, khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- Về xử lý vật chứng:
[8] Các sổ sách, chứng từ, hóa đơn liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo được lưu trong hồ sơ vụ án nên không đặt ra vấn đề giải quyết;
[9] Đối với các USB token chứa chữ ký số được sử dụng phục vụ cho hành vi phạm tội của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, d, đ khoản 2 Điều 203; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước;
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H 220.000.000 đồng (bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001343 ngày 11/3/2025 và Biên lai thu tiền số 0001345 ngày 13/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Về số tiền thu lợi bất chính: Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 347.953.803 đồng (bị cáo đã nộp theo Ủy nhiệm chi ngày 25/11/2024 tại Kho bạc Nhà nước H9 và Biên lai thu tiền số 0001342 ngày 11/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy:
- 01 USB Token ghi tên Công ty T8, Seri: ONE2208A0019092;
- 01 USB Token ghi tên Công ty T9, Seri: 54102204204613;
- 01 USB Token ghi tên Công ty T10, Seri: ONE2208A0019062;
- 01 USB Token ghi tên Công ty T11, Seri: 54102204204612;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đỗ Xuân Quyết Vũ Thị Minh Nguyệt Nguyễn Thanh Hải Bùi Thị Thu Hằng |
Nguyễn Mạnh Hà |
Nơi nhận:
- TANDCC; VKSNDCC;
- Vụ 1 – TANDTC;
- VKSND TP Hải Phòng;
- PC10 Công an TP Hải Phòng;
- Cục THADS TP Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TPHP;
- UBND phường Vĩnh Niệm, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
- Bị cáo;
- Người bào chữa cho bị cáo;
- Phòng KTNV và THA;
- Lưu: HS, HCTP.
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HOA
