TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày: 13/3/2025 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn. `
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Tuyết Nhung, bà Trần Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình – Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh H; Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam. Sinh ngày: 29/4/1996; Tại: Tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Số 20 đường Lê Cảnh Tuân, tổ dân phố 5, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12.
Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1964; Con bà: Lê Thị P, sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/10/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà
- Bị hại: Công ty TNHH T9.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Thị N, sinh năm 1972
Địa chỉ: B P, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị P, sinh năm 1960.
Trú tại: B L, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh H là nhân viên của Công ty TNHH T9 (gọi tắt là Công ty T9), địa chỉ số B đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, do bà Hồ Thị N, sinh năm 1972, là người đại diện theo pháp luật. H được giao công việc là chở các bình gas đi giao cho khách hàng khi có đơn đặt mua và thu tiền của khách. Trường hợp khách hàng nợ tiền thì H có trách nhiệm đi thu số tiền nợ của khách. Sau khi thu tiền bán hàng và tiền nợ (nếu có) từ khách hàng, H có trách nhiệm quản lý, giữ số tiền thu được của khách hàng đến 19 giờ hàng ngày, H phải nộp tiền thu được cho Công ty T9. Quá trình làm việc, H được Công ty T9 giao 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen, biển kiểm soát 47P9-8170, để phục vụ công việc. Lợi dụng việc được Công ty giao nhiệm vụ như trên, trong khoảng thời gian từ ngày 10/4/2024 đến ngày 21/4/2024, H thực hiện nhiều hành vi chiếm đoạt tiền của Công ty, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 10/4/2024, Nguyễn Minh H được Công ty giao chở 02 bình gas, loại bình 45kg, giá 1.120.000 đồng/01 bình, giao cho khách hàng là ông Phạm Văn S, sinh năm 1989, địa chỉ buôn A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do ông S nợ tiền hàng nên ngày 11/4/2024, H đến thu của ông S số tiền 2.240.000 đồng. Tại đây, ông S trả cho H số tiền 2.040.000 đồng, còn 200.00 đồng anh S chuyển khoản trực tiếp cho Công ty T9 H1. Do có ý định chiếm đoạt tiền hàng của công ty từ trước, nên sau khi thu được số tiền 2.040.000 đồng, H không nộp lại công ty, chiếm đoạt số tiền 2.040.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Vào các ngày 15/4/2024 và ngày 16/4/2024, Nguyễn Minh H được Công ty giao chở 02 bình gas, loại 45kg, đơn giá 1.300.000 đồng/01 bình, giao cho khách hàng là bà Từ Thị Phương H2, sinh năm 1985, trú tại số G đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk L Do bà H3 nợ tiền hàng, nên ngày 17/4/2024 H đến thu của bà H2 số tiề 2.600.000 đồng. Cùng ngày, H được Công ty giao chớ 01 bình gas, loại 12kg giao cho khách hàng bà Nguyễn Thị Hoài A, sinh năm 1984, trú tại số F đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiến 340.000 đồng. Do có ý định chiếm đoạt tiền hàng của công ty từ trước, nên sau khi thu được số tiền 2.940.000 đồng, H không nộp lại công ty, chiếm đoạt số tiền 2.940.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Ngày 17/4/2024, H được Công ty giao chở 01 bình gas, loại 45kg, đơn giá 1.300.000 đồng/01 bình, giao cho khách hàng là ông Y Nuêl N1, sinh năm 1971, trú tại buôn A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do ông Y Nuêl N1 nợ tiền hàng nên ngày 18/4/2024, H đến thu của ông Y Nuêl N1 số tiền 1.300.000 đồng. Do có ý định chiếm đoạt tiền của công ty từ trước, nên sau khi thu được số tiền 1.300.000 đồng, H không nộp lại công ty, chiếm đoạt số tiền 1.300.000 đồng, sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ tư: Ngày 18/4/2024, H được Công ty giao chở 01 bình gas, loại 12kg, đơn hàng của 01 bình gas, loại 12kg, cho khách hàng là ông Ayun A1, sinh năm 1988, trú tại số D đường/ phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do ông Ayun A1 nợ tiền hàng, nên ngày 19/4/2024 H đến thu của ông A2 số tiền 340.000 đồng. Do có ý định chiếm đoạt tiền hàng của công ty từ trước, nên sau khi thu được số tiền 340.000 đồng, H không nộp lại công ty, chiếm đoạt số tiền 340.000 đồng, sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ năm: Ngày 16/4/2024, Nguyễn Minh H được Công ty giao chở 01 bình gas, loại 12kg, giao cho khách hàng chị Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1981, trú tại số F đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng. Do chị T nợ tiền nên ngày 20/4/2024, H đến thu của chị T số tiền 340.000 đồng. Cùng ngày, H được Công ty T9 giao 04 đơn hàng gồm: 05 bình gas, loại 12kg, đơn giá 310.000 đồng/ 01 bình, cho ông Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1967, trú tại số E đường D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 1.550.000 đồng; 02 bình gas và 04 vỏ bình gas, loại 12kg, đơn giá 340.000 đồng/ 01 bình, 200.000 đồng/ 01 vỏ, cho bà Hoàng Thị Kim D, sinh năm 1975, trú tại số A đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền là 2.160.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1991, trú tại buôn A, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng và 01 bình gas, loại 12kg, cho chị Đinh Thúy Hương G, sinh năm 1987, trú tại số G đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đ. Do có ý định chiếm đoạt tiền hàng của công ty từ trước, nên sau khi thu được số tiền 4.730.000 đồng, H không nộp lại công ty, chiếm đoạt số tiền 4.730.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ sáu: Ngày 21/4/2024, H được Công ty T9 giao 13 đơn hàng gồm: 01 đơn hàng của 01 bình gas, loại 12kg, cho bà Phạm Thị H5, sinh năm 1972, trú tại số B đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho bà Phan Thị N2, sinh năm 1959, trú tại số A đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng, 01 bình gas, loại 12kg, cho bà Đỗ Thị D1, sinh năm: 1993, trú tại số E đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng, 01 bình gas, loại 12kg, cho ông Do Quốc T2, sinh năm 1993, trú tại số E đường D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho bà Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1969, trú tại số B đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng. 01 bình gas, loại 12kg, cho bà Võ Thị Thu T4, sinh năm 2003, trú tại số H đường D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 340.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho bà Uông Thị T5, sinh năm 1986, trú tại buôn A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 350.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho chị Hồ Thị M, sinh năm 1978, trú tại buôn N, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 350.000 đồng; 01 bình gas, cho chị Văn Thị Bích T6, sinh năm 1975, trú tại số A đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 370.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho chị Đoàn Thị Phương T7, sinh năm 1985, trú tại số H đường D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 370.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho anh Đào Thanh H6, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố A, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 370.000 đồng; 01 bình gas, loại 12kg, cho anh Lê Anh T8, sinh năm 1988, trú tại số A đường G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 370.000 đồng và 01 bình gas, loại 12,5kg, cho chị Phạm Thị N3, sinh năm 1992, trú tại số G đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu số tiền 470.000 đồng. Do có ý định chiếm đoạt tiền hàng của công ty T10 trước, nên sau khi thu được số tiền 4.690.000 đồng, H không nộp lại công ty. chiếm đoạt số tiền 4.690.000 đồng. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biên kiểm soát 47P9-8170 di đến gửi xe tại bãi giữ xe của Siêu thị C, địa chỉ số G đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, rồi bỏ trốn. Số tiền chiếm đoạt được H sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tạm giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen, biển kiểm soát 47P9-8170, là vật chứng của vụ án để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSTP.BMT ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo.
Quá trình tranh luận Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tham ô tài sản” .
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh H đã tác động gia đình bồi thường cho Công ty T9 H1 số tiền 16.040.000 đồng, Đại diện công ty bà Hồ Thị N đã nhận số tiền trên và làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Công ty không có yêu cầu gì khác nên không đề cập xem xét
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda Wave, màu xám đen, biển kiểm soát 47P9-8170, là tài sản của Công ty gas Hãi, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47P9-8170 cho bà Hồ Thị N nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét lời khai của bị cáo, phù hợp lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Nguyễn Minh H là nhân viên của Công ty TNHH T9. Công việc của H có trách nhiệm giao hàng là các bình gas cho khách hàng, thu tiền, quản lý tiền thu của khách hàng và nộp lại cho Công ty theo đúng quy định. Lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao, trong khoảng thời gian từ ngày 11/4/2024 đến ngày 21/4/2024, tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Minh H đã thu tổng số tiền 16.040.000 đồng. Sau khi thu được tiền, H không nộp lại cho Công ty T9 H1, chiếm đoạt số tiền 16.040.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân hết, thì bị phát hiện xử lý.
Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Minh H phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 BLHS
[3] Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 BLHS là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 353. Tội Tham ô tài sản
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
c) Phạm tội từ 02 lần trở lên".
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị, nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi và muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng I. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh H đã tác động gia đình bồi thường cho Công ty T9 số tiền 16.040.000 đồng. Đại diện công ty bà Hồ Thị N đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
Trong vụ án ày, đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47P9-8170 bỏ đi sau khi chiếm đoạt tài sản của Công ty T9 H1, bị cáo H gửi xe mô tô trên tại bãi giữ xe của Siêu thị C, rồi bỏ trốn. Quá trình điều tra xác định, bị cáo H không có ý định chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 4799-8170 của Công ty T9 H1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, không đề cập xử lý là phù hợp
[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 46,48 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda Wave, màu xám đen, biển kiểm soát 47P9-8170, là tài sản của Công ty gas Hãi, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47P9-8170 cho bà Hồ Thị N nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tham ô tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 12/10/2024.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh H đã tác động gia đình bồi thường cho Công ty T9 H1 số tiền 16.040.000 đồng, là tiền H chiếm đoạt của Công ty. Đại diện công ty bà Hồ Thị N đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 46, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47P9-8170 cho bà Hồ Thị N nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Đôn |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT về tham ô tài sản (criminal case)
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Hiếu - Bị xét xử về tội Tham ô tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 353 BLHS
