|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày 13 – 3 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Lan Anh, ông Nguyễn Hồng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Thạo Thong Chăn Mạ N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999 tại huyện M, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào; Nơi cư trú: Bản H, cụm bản N, huyện M, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Lào; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Thạo L (đã chết) và bà N1 Ơ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 08/11/2024 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Điêu Chính T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
- Người phiên dịch: Anh Vì Văn D. Địa chỉ: Tổ G, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 08/11/2024, tổ công tác Đồn Biên phòng M1 làm nhiệm vụ tại bản Bua Hin, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Thạo Thong Chăn Mạ N, sinh năm 1999, trú tại bản Huổi Mển, cụm bản N, huyện M, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 túi đeo màu đen bên trong có 01 túi nilon màu xanh chứa nhiều viên nén màu hồng (nghi là ma túy tổng hợp); 01 gói nilon màu xanh trong có chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 gói nilon màu đen bên trong có các cục tinh thể mau trong suốt (nghi là ma túy đá) cùng 01 điên thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 xe máy biển kiểm soát 0075.
Ngày 09/11/2024, Đồn biên phòng M1 đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả: Cân tịnh gói nilon màu xanh thứ nhất có 180 viên nén màu hồng, khối lượng 17,07 gam, trích mẫu giám định, ký hiệu P1; chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,03 gam, trích làm mẫu giám định, ký hiệu P2; tinh thể màu trắng trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,68 gam, trích mẫu gửi giám định, ký hiệu P3.
- Kết luận giám định số 2021/KL-KTHS ngày 10/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
- + Mẫu ký hiệu P1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam.
- + Mẫu ký hiệu P2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam.
- + Mẫu ký hiệu P3 gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam.
Khối lượng ma túy thu giữ là 17,07 gam Methamphetamine; 0,03 gam Heroine và 0,68 gam Ketamine quy đổi bằng 0,22 gam Methamphetamine. Tổng quy kết trách nhiệm là 17,32 gam ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/11/2024, Thạo T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 0075 đi từ nhà đến bản H, cụm bản N, huyện M để tìm mua dê, tại đây Mạ N gặp người có tên là P (quốc tịch Việt Nam, nhưng không biết họ, địa chỉ, số điện thoại) đã quen biết từ trước. Qua trao đổi, P bảo Mạ N sang Việt Nam đến khu vực bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La sẽ có người mang dê đến bán. Khi Mạ N đồng ý, P đưa cho M Ni 01 túi đeo màu đen và nói bên trong có chứa ma túy (không nói cụ thể loại ma túy) cùng 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen và dặn Mạ N đưa cho T1 (người sẽ giao dê cho Mạ N), T1 sẽ trả 50.000 đồng tiền công. Mạ Ni nhất trí và lấy số ma túy của mình mang theo cho vào cùng túi P đưa đeo lên người và điều khiển xe mô tô đi đến trạm N2, cụm bản Nà C để làm thủ tục xuất cảnh, khi đến khu vực bản B, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Bộ đội biên phòng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Về nguồn gốc số ma túy, Thạo Thong Chăn Mạ N khai nhận số 17,07 gam ma túy loại Methamphetamine là của người đàn ông tên P, người Việt Nam nhưng không biết họ, địa chỉ và số điện thoại, P có đưa cho Mạ N 01 chiếc điện thoại di động nhưng không xác định được số thuê bao nên không có căn cứ để điều tra xác minh. Đối với số ma túy 0,03 gam Heroine và 0,68 gam Ketamine, Mạ N khai mua của một người đàn ông tên S mang đi để sử dụng, nhưng được để chung trong cùng một túi; Toàn bộ số ma túy đều được thu giữ trong túi đeo màu đen để vận chuyển giao cho người khác. Theo báo cáo của Công an huyện M, tỉnh Hủa Phăn, Lào xác định không có ai tên Thạo S nên không có căn cứ để tiếp tục điều tra xác minh.
Đối với người nhận ma túy, bị cáo khai có tên là T1 nhưng không biết họ, địa chỉ cư trú, số điện thoại, nên không có căn cứ để tiếp tục xác minh nên buộc Mạ N phải chịu trách nhiệm chung về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy với toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy từ Lào về Việt Nam của M, quá trình điều tra xác định Mạ N đã làm thủ tục xuất cảnh đúng quy định nên không vi phạm về các quy định xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại quy định tại Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình cũng như Điều 347 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự và Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì số 0,68 gam Ketamine quy đổi (0,68 gam x 100)/300 bằng 0,22 gam Methamphetamine.
Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-P1 ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm o, e khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm o, e khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N từ 09 đến 10 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau khi trích mẫu giám định và 01 chiếc túi đeo màu đen.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe máy, 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của Thạo T.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Nhất trí nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân phạm tội của bị cáo. Do không có thu nhập và không có việc làm ổn định nên đã nhận lời của người đàn ông tên P vận chuyển thuê ma túy từ Lào về Việt Nam nhằm được hưởng tiền công. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có con nhỏ và hiện đang sống chung như vợ chồng chưa có đăng ký kết hôn. Bị cáo là người nước ngoài có quốc tịch Lào, nhận thức về pháp luật Việt Nam bị hạn chế, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện khó khăn, đề nghị hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng Hiệp định tương trợ tư pháp quốc tế để xử phạt bị cáo mức an thấp nhất từ 07 đến 09 năm tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí đối với bị cáo.
Ý kiến đối đáp của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo đã vi phạm 02 tình tiết định khung là “Qua biên giới” và “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này”; đối chiếu với khối lượng ma túy đã thu bị giữ, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Đối với đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự của luật sư bào chữa do bị cáo sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, đây là tình tiết không có căn cứ rõ ràng, văn bản hướng dẫn về các địa bàn có điều kiện khó khăn chỉ áp dụng tại Việt Nam nên không áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N khai nhận hành vi phạm tội, nhất trí với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự:
Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là đồng nhất, thể hiện: Ngày 08/11/2024, Thạo Thong Chăn Mạ Ni nhận lời của người đàn ông tên P (quốc tịch Việt Nam, Mạ N không biết họ, địa chỉ, số điện thoại) vận chuyển 01 túi đeo màu đen bên trong có chứa 17,32 gam ma túy (gồm 17,07 gam Methamphetamine; 0,03 gam Heroine và 0,68 gam Ketamine được quy đổi bằng 0,22 gam Methamphetamine) từ bản Huổi Sai, cụm bản N, huyện M, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào đến khu vực bản B, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La, nước CHXHCN Việt Nam giao cho người đàn ông tên T1 để được hưởng 50.000 đồng tiền công thì bị bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bởi các căn cứ sau:
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thạo Thong Chăn Mạ N lập hồi 09 giờ 10 phút, ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại khu vực bản B, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La cùng vật chứng;
- - Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, niêm phong mẫu giám định và vật chứng lập hồi 14 giờ 00 phút, ngày 09 tháng 11 năm 2024 tại Phòng K Công an tỉnh S;
- - Kết luận giám định số 2021/KL-KTHS ngày 10/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh S;
- - Lời khai của người chứng kiến sự việc bắt giữ đối với bị cáo và tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập lưu trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng 17,32 gam Methamphetamine từ Lào sang Việt Nam, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Qua biên giới” và “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương ứng với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này” quy định tại điểm o, e khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N tiếp nhận ý chí của người đàn ông tên P, vận chuyển 17,32 gam ma túy từ nước CHDCND Lào sang cho người đàn ông tên T1 tại bản B, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La để hưởng tiền công 50.000 đồng. Bị cáo Mạ N là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc vận chuyển ma túy là vi phạm pháp luật hai nước nhưng do hám lời nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, vi phạm chính sách, pháp luật của N3 về đấu tranh phòng, chống ma túy. Xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, Do đó, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Khơ mú) sống ở vùng khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính thì bị cáo Mạ N còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có khả năng thi hành nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N là người nước ngoài, phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam, sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt chính là hình phạt tù, cần trục xuất bị cáo ra khỏi lãnh thổ nước CHXNCN Việt Nam theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự.
[6] Đối với người đàn ông tên P và người đàn ông tên T1 bị cáo khai là người giao và sẽ nhận ma túy ở Việt Nam. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Mạ N không biết họ, địa chỉ cư trú, số điện thoại, do đó không có căn cứ để xử lý, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 17,09 gam ma túy còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định, là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành và 01 chiếc túi đeo màu đen, xét thấy đây là vật dụng mà bị cáo Mạ N dùng để vận chuyển ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu trắng đen, biển kiểm soát Lào số 0075 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen, xét thấy đây là những công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng để vận chuyển ma túy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N là người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o, e khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
- - Xử phạt bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/11/2024.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N.
- - Áp dụng Điều 37 Bộ luật Hình sự: Trục xuất bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N ra khỏi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 17,09 gam ma túy cùng các túi nilon, mảnh nilon, phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở được niêm phong trong 01 chiếc phong bì và 01 chiếc túi đeo màu đen, trên túi có dòng chữ “LV”, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, vỏ màu đen, màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra được thông tin, seri, imei và tình trạng hoạt động của chiếc điện thoại do đã hết pin, không bật được nguồn, được niêm phong trong 01 chiếc phong bì.
- + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu trắng đen, biển kiểm soát Lào số 0075, số khung RLHJA3827KY029119, số máy JA38E-0509720, xe không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng, đã niêm phong một số vị trí (phần đầu xe, thân xe, máy móc).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La và Cục thi hành án tỉnh Sơn La lập ngày 22/01/2025).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Thạo Thong Chăn Mạ N.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thạo Thạo Thong Chăn Mạ N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/3/2025)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Thị Mai Lan |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 08 năm tù
