|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 59/2025/HS-ST Ngày: 24-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm.
Bà Vương Thị Khánh Loan.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
1/ Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.
2/ Ông Trần Doãn M – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 765/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Minh Đ (Tên gọi khác: Bé Ba); sinh năm 1992 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: 48/6, tổ A, khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Nguyễn Cẩm H, sinh năm 1962. Họ tên mẹ: Lê Thị Thu H1 (đã chết). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Họ tên vợ: Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ ngày 25/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ.
2/ Nguyễn Thị Yến N (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 2000 tại Đồng Tháp. Nơi đăng ký thường trú: 150A/4, ấp Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nữ. Trình độ học vấn: Lớp 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1979. Họ tên mẹ: Bùi Thị P, sinh năm 1980. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có chồng con. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ ngày 25/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thúy H2, sinh năm 1988.
Địa chỉ: 2, khu phố E, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo Đ, bị cáo N có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24/7/2023, Nguyễn Minh Đ cùng Nguyễn Quang H3 (sinh năm 1991), ngụ tại tổ C, khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai), Lê Xuân T2 (sinh năm 1990), ngụ tại tổ A, khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai), Võ Thị Mộng G (sinh năm 1998) và Võ Thị Diễm H4 (sinh năm 2001), cùng ngụ tại ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang tổ chức ăn uống, hát tại quán Karaoke "D" thuộc phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, quán "Diễm M1" đóng cửa nên T2 rủ H3 và Đ đến quán Karaoke "N" thuộc khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai để tiếp tục hát thì tất cả đồng ý. Khi này, Đ nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên Đ rủ G và H4 đi sử dụng ma túy thì G và H4 đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô biển số 33R4- 6768 chở G và H4 ngồi sau đến quán Karaoke "Nữ Hoàng" để hát Karaoke và sử dụng ma túy.
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 25-7-2023, Đ, H3, T2, G, H4 đến quán Karaoke "Nữ Hoàng" và được Hoàng Đơn D (sinh năm 1996), ngụ tại C, khu phố A, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai là người quản lý, điều hành quán dẫn vào phòng “Vip 4”, D phân công Nguyễn Thị Yến N phục vụ phòng “Vip 4”. Đ gọi Lê Thị Huyền T3 (sinh năm 1993), ngụ tại ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang và Nguyễn Thị Thu H5 (sinh năm 1997), ngụ tại tổ I, ấp E, xã H, huyện C, TP . - là tiếp viên của quán Karaoke "Nữ Hoàng" vào hát cùng Đ. Khoảng 00 giờ 20 phút cùng ngày, T2 say và nằm ngủ trên ghể trong phòng "Vip 4", H6 và T3 nghỉ rồi bỏ đi khỏi phòng "Vip 4". Lúc này, Đ sử dụng điện thoại liên lạc với đối tượng tên "Linh Cơm" (chưa rõ lai lịch) qua số thuê bao 0937727964 mua 1 (Một) gói ma túy tổng hợp hàng khay (nửa hộp năm) và 02 (Hai) viên thuộc lắc với giá 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) để nhóm Đ sử dụng. Khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, Đ đi ra đường (khu vực gần quán Karaoke "N") gặp "Linh Cơm" mua được số ma túy nêu trên (tiền mua ma túy Đ nợ "Linh Cơm"). Đ cầm ma túy vừa mua được vào phòng "Vip 4" đổ ma túy tổng hợp hàng khay vào tờ tiền mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng) và đặt thuốc lắc trên bàn rồi Đ, H3, G, H4 cùng nhau sử dụng ma túy bằng cách đổ ma túy tổng hợp hàng khay lên tay, dùng ống hút làm bằng 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng) cuộn tròn hít qua đường mũi và bẻ nhỏ viên thuốc lắc nuốt qua đường miệng.
Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm sử dụng hết số ma túy của Đ mua nêu trên. Đ tiếp tục gọi điện thoại cho "Linh C" để mua ma túy nhưng không liên lạc được. Đ nhờ N liên lạc với người khác mua giùm 01 (Một) gói ma túy tổng hợp hàng khay (nửa hộp năm) và 02 (Hai) viên thuốc lắc với giá 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng), N đồng ý. N sử dụng điện thoại của Đ liên lạc với đối tượng tên "Ngỏ" (chưa rõ lai lịch) qua số thuê bao 0333906696 để mua ma túy. Khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày, Đ đưa 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) cho N để N đi đến khu vực đường Đ cách quán Karaoke "Nữ Hoàng" khoảng 300m gặp "Ngỏ" mua số ma túy nêu trên. Sau đó, N cầm số ma túy vừa mua được vào phòng "Vip 4" và đặt trên bàn rồi Đ, N, H3, H4, G cùng nhau sử dụng ma túy.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ, N, H3, H4, G đang sử dụng ma túy còn T2 đang nằm ngủ trên ghế thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an T4 phối hợp cùng Công an phường T đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang; thu giữ số ma túy còn lại chưa sử dụng hết.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Thị Yến N khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- - 02 (Hai) tờ tiền mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng) là công cụ để sử dụng ma túy.
- - 01 (Một) gói nilon chứa chất bột màu trắng, 01 (Một) gói nilon chứa 01 (Một) viên nén hình tròn màu xanh và một phần viên nén màu xanh để trên bàn (đã được lực lượng Công an thu giữ và niêm phong).
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số Imei 358598935543711 của Nguyễn Minh Đ và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei 359408085242834 của Nguyễn Thị Yến N sử dụng để liên lạc mua ma túy.
Đối với xe mô tô biển số 33R4 - 6768 Đ sử dụng làm phương tiện để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Kết quả điều tra xác định xe mô tô nêu trên do anh Vũ Hồng K đứng tên đăng ký xe. Chị Nguyễn Thị Thúy H2 (hàng xóm của Đ) khai mua lại xe mô tô nêu trên của anh K nhưng chị H2 đã bị mất giấy tờ xe và hợp đồng mua bán xe. Chị H2 cho Đ mượn xe để sử dụng làm phương tiện đi lại và không biết Đ sử dụng xe đi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do chưa làm việc được với anh K, chưa làm rõ được chủ sở hữu xe mô tô nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Tại Kết luận giám định số 1639/KL-KTHS ngày 31-7-2023, Giám định viên Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- - Mẫu chất màu trắng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5861 gam, loại Ketamine.
- - Mẫu mảnh vỡ và viên nén màu xanh (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5876gam, loại MDMA.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh Đ khai khi bị bắt đang sử dụng ma túy và sẽ tiếp tục sử dụng hết số ma túy còn lại nếu không bị bắt.
Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Thị Yến N, Nguyễn Quang H3, Võ Thị Diễm H4, Võ Thị Mộng G khai Hoàng Văn D1 cùng tham gia sử dụng ma túy với cả nhóm. Đ, N khai H3 đưa tiền cho Đ để mua ma túy cho cả nhóm sử dụng. N khai Giàu có hành vi "xào, nấu" ma túy rồi G chia ma túy cho từng người trong nhóm sử dụng. Tuy nhiên, G, H4, Đ, N, H3 liên tục thay đổi lời khai về hành vi của H3 và D1, G không thừa nhận hành vi như lời khai của N, sau đó H4 và G đã bỏ đi khỏi nơi cư trú.
Tại Cáo trạng số: 32/CT-VKSBH-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Thị Yến N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Thị Yến N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Đăng C1 từ 08 tháng đến 12 tháng tù giam đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù giam, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù giam.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với tiền, công cụ dùng vào việc phạm tội gồm: 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 1.000đồng (Một nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số Imei 358598935543711 của Nguyễn Minh Đ và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei 359408085242834 của Nguyễn Thị Yến N sử dụng để liên lạc mua ma túy.
Các bị cáo không phát biểu bào chữa bổ sung gì thêm và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T4, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy H2. Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Thúy H2 vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự; đồng thời, tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo:
Khoảng từ 00 giờ 20 phút đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, tại phòng "Vip 4" quán Karaoke "Nữ Hoàng" thuộc khu phố B, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Thị Yến N có hành vi tổ chức cho Đ, N cùng Nguyễn Quang H3, Võ Thị Diễm H4, Võ Thị Mộng G sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an T4 phối hợp cùng Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thể hiện tại hồ sơ vụ án; phù hợp với những nội dung mà bản Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.
Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Thị Yến N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với ma túy. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, việc tổ chức sử dụng chất ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người sử dụng, dễ làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác.
Bản thân các bị cáo biết rất rõ tác hại của việc sử dụng ma túy nhưng do lối sống buông thả và để thỏa mãn nhu cầu ham muốn cá nhân mà các bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật. Khi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị pháp luật trừng trị bằng
hình phạt, do đó cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công trách nhiệm từng đồng phạm. Đối với bị cáo Nguyễn Minh Đ là người khởi xướng, đã mua ma túy và rủ rê bị cáo N, Nguyễn Quang H3, Võ Thị Diễm H4, Võ Thị Mộng G sử dụng trái phép chất ma túy, do đó bị cáo có vai trò vừa là người chủ mưu, vừa là người thực hành tích cực về hành vi "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã ly hôn và đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ bị cáo đã chết do tai nạn giao thông trong thời gian bị cáo bị tạm giam, bị cáo có ông chú là liệt sỹ, được tặng bằng Tổ quốc ghi công, Huy chương chiến sỹ vẻ vang, Huân chương kháng chiến hạng nhì là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.
Tuy nhiên, bị cáo là người giữ vai trò chính, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo Nguyễn Thị Yến N.
[6] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Yến N là người tiếp nhận ý chí của bị cáo Nguyễn Minh Đ, bị cáo N cũng muốn sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo N đã liên hệ và nhận tiền của bị cáo Đ để mua ma túy giúp bị cáo Đ về cho mọi người cùng sử dụng. Do đó, bị cáo Nguyễn Thị Yến N có vai trò vừa là người thực hành, vừa là người giúp sức trong vụ án này.
Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Đối với Võ Thị Diễm H4 và Võ Thị M2 Giàu có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an T4 đã xử phạt vi phạm hành chính. Đối với anh Bùi Văn B (sinh năm 1994), ngụ tại 2, tổ A, khu phố C, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai - người đứng tên Chủ hộ kinh doanh quán Karaoke "Nữ Hoàng", bà Nguyễn Thị D2 (sinh năm 1963) và anh Hoàng Hoài N1 (sinh năm 1987), cùng ngụ tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, người được ủy quyền và trực tiếp quản lý, điều hành
quán Karaoke "Nữ Hoàng": Kết quả kiểm tra xác định anh B, bà D2 chỉ đứng tên trên giấy tờ chứ hoàn toàn không tham gia quản lý, điều hành quán, quán do N1 và Hoàng Đơn D trực tiếp quản lý, điều hành. Thời điểm xảy ra vụ án, anh B, bà D2, anh N1 không có mặt tại quán, không biết các bị cáo Đ, N cùng G, H4, H3 sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng "Vip 4" nên không xử lý.
[8] Đối với Hoàng Đơn D, Nguyễn Quang H3, Võ Thị Mộng G, kết quả điều tra chưa đủ cơ sở chứng minh Dương, H3, G là đồng phạm trong vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 đã tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau (Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 6411/QĐ-ĐCSMT ngày 02/8/2024).
Đối với Nguyễn Hữu L là chủ sở hữu số điện thoại 0937.727.xxx và Ngô Thúy V là chủ sở hữu số điện thoại 0333.906.xxx: Kết quả điều tra chưa đủ căn cứ xác định L và V liên quan đến việc bán ma túy cho các bị cáo Đ và N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với các đối tượng tên "Linh Cơm", tên "Ngỏ" (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho các bị cáo Đ và N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với tiền, công cụ dùng vào việc phạm tội gồm: 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 1.000đồng (Một nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số Imei 358598935543711 của Nguyễn Minh Đ và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei 359408085242834 của Nguyễn Thị Yến N sử dụng để liên lạc mua ma túy.
Đối với xe mô tô biển số 33R4 - 6768 bị cáo Đ sử dụng làm phương tiện để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Xe mô tô nêu trên do anh Vũ Hồng K đứng tên đăng ký xe. Bà Nguyễn Thị Thúy H2 (hàng xóm của Đ) khai mua lại xe mô tô nêu trên của anh K nhưng bà H2 đã bị mất giấy tờ xe và hợp đồng mua bán xe. Bà H2 cho Đ mượn xe để sử dụng làm phương tiện đi lại và không biết Đ sử dụng xe đi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do chưa làm việc được với anh K, chưa làm rõ được chủ sở hữu xe mô tô nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là đúng quy định.
[7] Về tiền án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Đ 08 (tám) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Yến N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Yến N 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) gói niêm phong số 1639/KL của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 12 Promax, số Imei 358598935543711 đã qua sử dụng, thân masy bị trầy xước, không rõ tình trạng bên trong máy và 01 (Một) điện thoại di động Iphone X, số Imei 35940808524283, thân máy bị trầy xước, không khởi động được nguồn, không kiểm tra được Imei máy.
- (Theo Biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 với Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa)
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.000đồng (Hai nghìn đồng).
- (Theo Biên lai thu tiền số 0001825 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Thị Yến N mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy H2 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Trần Ngọc Phương Trang |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán |
Bản án số 59/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 59/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Đ và ĐP
