|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/02/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Đức Minh
2. Bà Lê Kim Phương
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xiêm – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Ông Đào Trọng Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 409/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 14/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QÐST-DS ngày 23/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị Huyền T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số E ngách B ngõ G, phố B, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Hoàng Huy H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số nhà A ngách F tổ A đường N, phường T, quận L, Thành phố Hà Nội.
( Chị T xin xét xử vắng mặt, anh H có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, chị Trương Thị Huyền T trình bầy: Tôi xây dựng gia đình với anh Hoàng Huy H trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại F, Nhật Bản theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2020 do T2 tại F, Nhật Bản cấp ngày 12/03/2020. Sau khi kết hôn chúng tôi có cuộc sống hòa thuận. Nhưng sau một thời gian chung sống, vợ chồng chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi với nhau, cuộc sống hôn nhân không có tiếng nói chung. Đến nay tình cảm ngày càng cạn kiệt và không còn tình cảm với nhau nữa. Từ tháng 6 năm 2020, tôi thường bị chồng đánh đập, bạo lực gia đình cả về thể xác lẫn tinh thần. Tháng 6 năm 2023, tôi phát hiện chồng tôi ngoại tình. Tháng 7 năm 2024, vợ chồng chúng tôi đã ly thân, vợ chồng chúng tôi ở chung nhà nhưng mỗi người ở một phòng riêng, không phát sinh quan hệ vợ chồng. Tôi nhận thấy chúng tôi đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, vun đắp cho gia đình, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc. Tôi biết không chỉ riêng tôi mà cả chồng tôi cũng đã mệt mỏi. Đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa, níu kéo cũng chỉ đem lại đau khổ và tốn thương cho hai bên. Vì vậy, tôi làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa tôi và anh Hoàng Huy H.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Hoàng Kim N sinh ngày 20/12/2021. Khi ly hôn tôi là xin được nuôi con. Tôi không đồng ý để anh H nuôi con vì cháu còn bé, mặt khác anh H đi tối ngày không có thời gian chăm sóc con chung. Tôi yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/ tháng. Hiện nay tôi đang làm nhân viên văn phòng thuộc Công ty TNHH T3 lương 15.000.000/tháng.
Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết
Về nợ chung: Chúng tôi không nợ ai, không cho ai vay, nên không yêu cầu T1 án giải quyết.
Những yêu cầu khác: Không
Bị đơn anh Hoàng Huy H trình bầy: Tôi xây dựng gia đình với chị Trương Thị Huyền T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại T2 tại F Nhật Bản ngày 12/3/2020. Sau khi kết hôn chúng tôi tại N và đến năm 2022 thì chúng tôi về nước. Khi về nước thì hai vợ chồng và con ở chung với bố mẹ tôi tại phường T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ tôi không cho tôi quan hệ sinh lý nên tôi có ra ngoài bóc bánh trả tiền 2 đến 3 lần dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn. Sở dĩ tôi phải ra ngoài quan hệ sinh lý với người đàn bà khác là do vợ tôi không cho tôi động chạm vào vợ, mỗi lần quan hệ sinh lý với vợ cứ như vợ tôi ban ơn cho tôi. Cuộc sống vợ chồng rất ngột ngạt khi hai vợ chồng không thể hòa hợp. Vợ tôi từ chuyện tôi quan hệ bóc bánh trả tiền với người đàn bà khác thì càng không cho tôi động vào người. Tôi biết lỗi và xin lỗi nhưng vợ tôi không tha thứ cho tôi. Tuy vợ chồng sống chung với bố mẹ tôi nhưng ăn riêng. Vợ chồng tôi cơm ai người đó ăn, việc ai người đó làm không ai quan tâm đến ai. Tôi và con thì ăn với bố mẹ tôi. Do công việc của tôi nên tôi cũng ít khi ăn cùng với bố mẹ tôi mà tôi tiện đâu ăn đấy, hôm nào về gặp bữa thì ăn không gặp bữa thì thôi. Còn vợ tôi cũng không cơm nước gì mà ăn ở ngoài rồi mới về. Bố mẹ tôi cũng trách hai vợ chồng là không bố trí ăn uống sinh hoạt cùng gia đình nhưng do vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung nên chúng tôi cứ sống như vậy. Thời gian đầu vợ chồng có thuê 01 gian hàng để cùng nhau kinh doanh bán đồ chơi. Cả hai vợ chồng cùng bán hàng. Vợ tôi là người không biết nấu ăn nên trong thời gian chung sống thì hầu như như vợ chồng mua cơm ngoài về ăn. Do cuộc sống chung luôn ngột ngạt do vợ chồng không có sự chia sẻ nên cách đây 3 tháng vợ tôi không bán hàng nữa và đi học. Thời gian đi học thì tôi vẫn chăm sóc bình thường. Từ tháng 5/2024 cho đến nay vợ chồng cắt đứt mọi quan hệ sinh lý cho đến nay. Khi mới lấy nhau thì tôi đưa hết tiền cho vợ để quản lý chi tiêu tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình, nhưng sau đó vợ không biết quản lý chi tiêu, khi cần là không có nên tôi chỉ đưa ít tiền để vợ tôi tiêu còn mọi chi phí sinh hoạt tôi đều lo hết. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, tôi không muốn ly hôn. Nếu vợ tôi cương quyết ly hôn thì tôi cùng đành chịu không biết làm thế nào. Tôi đồng ý ly thân để con cái đỡ khổ có cả bố cả mẹ chăm sóc. Tôi mong vợ tôi nghĩ lại không ly hôn mà cứ ly thân sống như hiện tại để con cái được sự chăm sóc của cả bố và mẹ. Tôi cũng không biết làm thế nào để vợ tôi tha thứ cho tôi.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Hoàng Kim N sinh ngày 20/12/2021. Nếu phải ly hôn thì nguyện vọng của tôi là xin được nuôi con. Nếu được nuôi con thì tôi không yêu cầu vợ tôi phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu vợ tôi được nuôi con thì tôi tự nguyện cấp dưỡng 5.000.000 đống/ tháng.
Hiện nay tôi là nhân viên văn phòng thuộc Công ty T4. Thu nhập nhập 10.500.000/tháng
Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra tôi không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa:
Chị T có đơn xin xử vắng mặt nên không có ý kiến.
Anh H: Không đồng ý ly hôn vì muốn con có cả cố và mẹ chăm sóc. Chỉ đồng ý ly thân. Đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu Tòa án giao con cho chị T nuôi thì tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng từ tháng 3/2025. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi Tòa thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành và thực hiện tốt các quy định của pháp luật. Các đương sự: Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến trước khi có quyết định xét xử. Bị đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự tại phiên tòa: Đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đề nghị Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Huyền T. Về con chung: Đề nghị giao con chung cho chị T được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H cấp dưỡng nuôi con đối với chị T là 3.000.000 đồng/ tháng. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch; anh H phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị T có đơn xin ly hôn anh H gửi tại Tòa án nhân dân quận Long Biên. Hiện anh H đang sinh sống tại phường T, quận L, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Long Biên. Chị T có đơn xin xử vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Huyền T xây dựng gia đình với anh Hoàng Huy H trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại T2 tại F Nhật Bản ngày 12/3/2020. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận theo chị T trình bày đến năm 2020 đã thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do thường bị chồng đánh đập, bạo lực gia đình cả về thể xác lẫn tinh thần. Anh H cho rằng vì chị T không có tình cảm với mình nên mới có quan hệ với người phụ nữ khác. Mục đính chỉ là bóc bánh trả tiền. Vợ chồng sống ly thân giữa năm 2024 không quan tâm chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn. Anh H không đồng ý ly hôn nhưng lại đồng ý ly thân. Luật hôn nhân gia đình không có chế định ly thân nên đề nghị của anh H là không phù hợp. Bản thân anh H cũng thừa nhận cuộc sống chung luôn ngột ngạt. Như vậy mục đích hôn nhân không đạt được và đây cũng là căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Hoàng Kim N sinh ngày 20/12/2021. Hiện cháu đang sống chung nhà với ông bà nội. Chị T và anh H đều thuê nhà ở chỗ khác và cùng nhau chạy qua lại chăm con. Khi ly hôn cả hai đều có nguyện vọng được nuôi con chung. HĐXX thấy giao cháu N cho ai nuôi cũng phải đảm bảo quyền lợi của cháu. Hiện cháu N còn quá nhỏ mới được 38 tháng lại là con gái nên thấy cần giao con cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tại phiên tòa anh H chỉ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng vì thu nhập thêm của anh đang bị giảm sút. Xét thấy, anh H tuy có hợp đồng lao động nhưng hết hạn vào ngày 17/02/2025, không xuất trình được tài liệu chứng cứ hợp đồng đã được gia hạn; thu nhập thêm lại bị giảm sút. Tại tòa anh H khai chi phí bình quân cho con khoảng 2.000.000 đồng/tháng. Do vậy việc anh H tự nguyện cấp phí tốn nuôi con chung 3.000.000đông/ tháng không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội nêu được ghi nhận.
Về tài sản chung: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5; Anh H phải chịu án phí theo quy định tại điểm b khoản 6 của điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19; 56; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ điềm a khoản 5; điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật thi hành án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Huyền T sinh năm 1993.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Huyền T sinh năm 1993 được ly hôn với anh Hoàng Huy H sinh năm 1995
Về con chung: Xác định chị T và anh H có 01 con chung Hoàng Kim N sinh ngày 20/12/2021. Giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ghi nhận tự tự nguyện của anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị T 3.000.000 đồng/tháng bắt đầu từ tháng 3/2025 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có yêu cầu mới. Không ai được cản trở quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trương Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp tạm ứng 300.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Long Biên ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo BL số: 0051358, nay được chuyển thành án phí. Anh Hoàng Huy H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm và phải nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Long Biên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị T có mặt anh H. Anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi gửi:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu Nga |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
