|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2025/DS-ST Ngày 18 - 02 - 2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Xông Pha.
Ông Lê Thanh Hiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 703/2024/TLST-DS ngày 29/7/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 572/2024/QĐXXST-DS ngày 31/12/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm H, sinh năm 1951.
Bà Hoa Thị D, sinh năm 1956.
Người đại diện hợp pháp của ông H: Bà Hoa Thị D, sinh năm 1956 – Là người đại diện theo uỷ quyền (Hợp đồng uỷ quyền ngày 12/7/2024).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H: Bà Võ Bé N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C.
Địa chỉ: Khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Việt T, sinh năm 1955.
Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Kim T1, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ông Phạm Quốc T2, sinh năm 1983.
Ông Phạm Trọng N1, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà D, ông T2, bà T1 có mặt. Ông Nguyên C đề nghị xét xử vắng mặt. Bà T vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15/7/2024, lời trình của nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Nguồn gốc đất tranh chấp của cha mẹ chồng là ông Phạm Văn P (đã chết) và bà Phan Thị T3 (đã chết) tặng cho vợ chồng vào năm 1976, diện tích đất được tặng cho khoảng 1,5 công đất tầm lớn bằng 1.944 m² (diện tích cụ thể chiều ngang 12 tầm (36 mét)) – đất tọa lạc tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, việc tặng cho không có làm giấy tờ gì. Quá trình quản lý và sử dụng đất thì chưa được cơ quan có thẩm quyền nào cấp quyền sử dụng đất (QSDĐ) hay giấy tờ về đất. Sau khi được tặng cho đất thì vợ chồng quản lý và sử dụng đất đến khoảng năm 1984 đến 1986 thì vợ chồng bỏ đi nơi khác làm ăn, sinh sống và giao lại toàn bộ phần đất cho vợ chồng ông Phạm Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Việt T mượn và quản lý, sử dụng cho đến nay, việc cho mượn đất không có làm giấy tờ gì. Quá trình vợ chồng bị đơn quản lý và sử dụng đất thì vợ chồng nguyên đơn không có ý kiến phản đối hay yêu cầu gì. Do có nhu cầu về đất ở, nên khoảng tháng 4/2024 bà D có yêu cầu gia đình bà T cho đòi 01 phần đất để ở, nhưng không đồng ý, nên phát sinh tranh chấp. Đối với việc mục đích yêu cầu xin lại đất để dành lối đi cho ông Phạm Văn D1 là không có. Nếu được giao lại đất thì bà D vẫn để đường nước và đường đi cho gia đình bà T và ông D1 sử dụng không ngăn cản. Vợ chồng có 01 nền nhà ngang 05 mét X dài 40 mét – tọa lạc tại ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (phần đất này vợ chồng có xây cất nhà trên đất), bà D và ông H đã sống ly thân đã hơn 10 năm nay, nhà và đất ông H quản lý, còn bà D hiện nay đi làm ăn xa. Theo đơn khởi kiện ban đầu vợ chồng yêu cầu đòi lại toàn bộ phần đất 1.944 m², nhưng do chỉ cần 01 phần đất ở nên chỉ yêu cầu phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 540,3 m².
Ý kiến tranh luận của Trợ giúp viên pháp lý: Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất cha mẹ cho vợ chồng nguyên đơn, thực tế nguyên đơn có sử dụng đất, bị đơn không chứng minh được việc tặng cho đất, các con của cụ P và cụ T3 đều thống nhất có ý kiến đề nghị giao cho nguyên đơn 01 phần đất, nguyên đơn thực tế có khó khăn về đất ở. Để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn và gia đình bị đơn trả diện tích đất 540,3 m².
Nay bà D đồng thời đại diện theo uỷ quyền của ông H xin rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất 1.403,7 m², yêu cầu bà T và gia đình cho lại diện tích đất 540,3 m². Chi phí tố tụng yêu cầu bên nào thua bên đó chịu toàn bộ
- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Nguồn gốc đất tranh chấp của cha mẹ chồng là ông Phạm Văn P (đã chết) và bà Phan Thị T3 (đã chết). Ông P và bà T3 có 11 người con gồm Phạm Văn S (chết), Phạm Hùng H2 (chết); Phạm H;
Phạm Quốc V, Phạm Văn B, Phạm Thị P1, Phạm Văn D1, Phạm Thị T4, Phạm Thị N2, Phạm Kim L, Phạm Thị Cấn . Cha mẹ ông P và bà bà T3 đều đã chết, ông P và bà T3 không có con nuôi, cha mẹ nuôi. Bà T và chồng tên Phạm Hùng H2 (đã chết), giữa vợ chồng có 03 người con tên Phạm Kim T1, Phạm Quốc T2, Phạm Trọng N1. Ông H2 không có con nuôi và cha mẹ nuôi. Năm 1976 cha mẹ kêu vợ chồng ông H và bà D về ở trên đất (chứ không có nói tặng cho gì), đến năm 1978 vợ chồng ông H và bà D bỏ đi nơi khác sinh sống, đến năm 1981 cha mẹ kêu vợ chồng bà T cho diện tích khoảng 1,5 công tầm lớn (1.944 m² (chiều ngang 36 mét)) và khoảng 02 năm sau cho thêm một phần đất nối hậu. Sau đó vợ chồng xây cất nhà ở trên đất cho đến nay (việc cho tặng cho đất không có làm giấy tờ gì), phần đất vợ chồng đã quản lý sử dụng ổn định từ năm 1981 cho đến nay, nhưng chưa được cấp QSDĐ (năm 1992 ông H2 có kê khai đăng ký trên mục kê), tổng diện tích đất thực tế hiện là khoảng 2.000 m². Lý do tranh chấp theo là do bà D muốn lấy phần đất để nhượng lại cho ông Phạm Văn D1 làm lối đi (Trong phần đất tranh chấp 540,3 m² vợ chồng ông H và bà D yêu cầu thì có hiện trạng là 01 phần lối đi và thoát nước ngang khoảng 06 mét dùng để canh tác đất ruộng của gia đình bà T và cho gia đình ông D1 đi nhờ), lối đi này thì từ trước đến giờ gia đình bà T và gia đình ông D1 vẫn đi canh tác ruộng bình thường, nhưng thời gian gần đây ông D1 có ý định chuyển nhượng đất ruộng cho ông Phạm Quốc V (do có mâu thuẫn với ông V, nên gia đình có phản đối nếu nhượng cho ông V thì không cho đi, việc phản đối là do gia đình muốn nhượng lại đất của ông D1). Phần đất tranh chấp nếu giao cho vợ chồng ông H thì không có đường nước và lối đi nào để canh tác đất ruộng phía sau của gia đình bà T và ông D1. Theo đơn phản tố bà T có yêu cầu công nhận phần đất 2.000 m², bà T xin tự nguyện rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố đề nghị Toà án không thụ lý xem xét. Gia đình bà T sẽ liên hệ xin cấp QSDĐ theo quy định, sau khi sự việc tranh chấp được giải xong.
Nay bà Tiên đề N3 Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H và bà D. Chi phí tố tụng yêu cầu bên nào thua bên đó chịu toàn bộ.
- Lời trình bày anh N1, chị T1, anh T2 có tại hồ sơ và tại phiên toà: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của bà T.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:
Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng theo quy định. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên toà không có lý do đã không chấp hành đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu bị đơn và gia đình trả diện tích đất tranh chấp 540,3 m²; đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu bị đơn và gia đình trả diện tích đất tranh chấp 1.403,7 m². Về án phí các đương sự được miễn, chị phí tố tụng nguyên đơn tự chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng đều vắng mặt không rõ lý do và có đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) xét xử họ.
[2] Về phạm vi yêu cầu của các đương sự:
[2.1] Theo đơn khởi kiện ban đầu thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả diện tích đất tranh chấp 1.944 m². Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà D tự nguyện rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất 1.403,7 m², chỉ yêu cầu bị đơn trả diện tích theo đo đạc thực tế là 540,3 m². Hội đồng xét xử xét thấy việc rút yêu cầu của bà D là hoàn toàn tự nguyện, do đó căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đối với phần đất có diện tích 1.403,7 m².
[2.2] Đối với phần đất tranh chấp có diện tích 540,3 m² là yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trong phạm vi của vụ án này.
[2.3] Đối với bị đơn có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận QSDĐ đối với phần đất 2.000 m². Xét thấy việc công nhận QSDĐ không thuộc thẩm quyền của Tòa án, mà thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý hành chính nhà nước theo quy định tại khoản 33 Điều 3, Điều 136 Luật đất đai; đồng thời sau khi nộp đơn yêu cầu trong thời gian Toà án xử lý đơn và chưa thụ lý thì bà T đã tự nguyện rút lại yêu cầu, nên không xem xét và trả lại đơn yêu cầu cho bị đơn là đúng.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả lại QSDĐ. Xét thấy phần đất tranh chấp tọa lạc tại huyện T, tỉnh Cà Mau, nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[4] Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ: Các đương sự đều xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của cha ông Phạm Văn P và mẹ bà Phan Thị T3. Năm 1976 vợ chồng nguyên đơn được quản lý và sử dụng phần đất có diện tích 1,5 công đất tầm lớn (tương ứng 1.944 m² (đất có chiều ngang 36 mét)). Đến khoảng năm 1984 - 1986 vợ chồng nguyên đơn bỏ đi nơi khác làm ăn giao lại toàn bộ phần đất cho vợ chồng bị đơn mượn, đối với bị đơn thì cho rằng sau khi vợ chồng nguyên đơn bỏ đi giao đất lại cho cha mẹ thì đến năm 1981 vợ chồng bị đơn được cha mẹ tặng cho toàn bộ phần đất và trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay. Do nguyên đơn có nhu cầu về đất ở và có yêu cầu đòi lại đất, nên phát sinh tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Các đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc mình được cha mẹ tặng cho đất, nhưng qua xem xét lời khai của anh, chị, em ruột của các đương sự thì xác định được nguồn gốc đất ban đầu vợ chồng nguyên đơn được cha mẹ tặng cho vào năm 1976, đến khoảng năm 1981 – 1982 thì bỏ đi nơi khác, không tiếp tục quản lý sử dụng đất và giao đất lại cho cha mẹ, đến năm 1983 thì cha mẹ kêu vợ chồng bị đơn về ở trên đất để giữ đất. Như vậy, có căn cứ xác định vợ chồng nguyên đơn đã từ bỏ QSDĐ của mình đối với phần đất và không trực tiếp quản lý, sử dụng đất và không thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ khoảng năm 1981 – 1982 cho đến nay.
[4.2] Mặt khác, căn cứ vào lời khai của các đương sự, các người làm chứng và các anh, chị, em (các con của ông P và bà T3) thì chứng minh được thực tế vào khoảng trong mốc thời gian từ 1981 đến năm 1986 vợ chồng bị đơn đã trực tiếp quản lý và sử dụng phần đất tranh chấp từ cha mẹ giao; quá trình quản lý và sử dụng đất thì vợ chồng bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất, đã đầu tư xây dựng nhiều công trình và tài sản trên đất một cách ngay tình, liên tục, công khai trên 30 năm, mà không có bất kỳ sự ngăn cản, phản đối, yêu cầu gì của vợ chồng nguyên đơn hay cá nhân, tổ chức nào khác, nên bị đơn đã xác lập quyền của chủ sử dụng đất đối với phần đất kể từ khi bắt đầu quản lý và sử dụng cho đến nay là đúng theo quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự (BLDS). Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu đòi bị đơn và gia đình trả diện tích đất tranh chấp 540,3 m² là hoàn toàn không có cơ sở để chấp nhận.
[4.3] Hơn nữa, phần đất tranh chấp 540,3 m² được xác định hiện trạng là 01 phần lối đi và đường thoát nước phục vụ việc canh tác đất ruộng của gia đình bà T và gia đình ông D1. Nên trường hợp giã sử nếu có xem xét dành phần đất tranh chấp cho vợ chồng nguyên đơn để có đất ở và buộc phải có nghĩa vụ trả lại giá trị QSDĐ theo giá đã định 337.687.500 đồng cho bị đơn thì cũng không thể thực hiện được.
Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Xét về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phi tố tụng 14.353.800 đồng (Trong đó, tiền đo đạc là 4.141.800 đồng, chi phí thẩm định giá 9.612.000 đồng, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng) là đúng theo quy định tại các Điều 157, Điều Điều 165 BLTTDS.
[6] Về án phí: Các đương sự thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí và án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 236).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 244 BLTTDS; Điều 236 LÐÐ; Điều 236 BLDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326.
1. Tuyên xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm H và bà Hoa Thị D. Về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Việt T và gia đình trả diện tích đất tranh chấp 540,3 m² – thuộc thửa đất số: 309 – tờ bản đồ số: 04 (chỉnh lý năm 2022) – đất tọa lạc tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- (Có bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 23/9/2024 của Công ty TNHH Đ (kèm theo)).
- - Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm H và bà Hoa Thị D. Về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Việt T và gia đình trả diện tích đất tranh chấp 1.403,7 m².
2. Chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Phạm H và bà Hoa Thị D tự chịu toàn bộ số tiền 14.353.800 đồng (đã nộp và thực hiện xong).
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự thuộc thuộc trường hợp được miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, ông T2, bà T1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Huỳnh Hải |
Bản án số 59/2025/DS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 59/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
