|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 02 - 2025
Về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Vhi
- Ông Võ Văn Tám
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên toà: Ông Trương Minh Thiện – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 633/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Kim P, sinh năm 1973.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.
(chị P xin vắng mặt, anh X vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Kim P trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn X sau thời gian quen biết, tìm hiểu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý, hai người chung chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1993, nhưng không có tổ chức lễ cưới và không có đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó dần phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, kéo dài đến năm 2017 thì mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do anh X thường xuyên chơi cờ bạc như cá độ bóng đá, đánh bài, đá gà mà không có trách nhiệm với vợ con, nhiều lần gây nợ, chị phải đứng ra trả nợ thay. Ngoài ra, anh X còn nghiện rượu bia, khi say xỉn vợ chồng cãi nhau thì anh X đập phá đồ đạc trong nhà dù chị nhiều lần khuyên nhưng không có kết quả, đến nay thì vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng không ai nói chuyện đến ai, không còn tiếng nói chung vì chị nhiều lần tha thứ và anh X cũng nhiều lần hứa thay đổi nhưng vẫn không thay đổi, đến tháng 8/2024 thì anh X bỏ đi không trở về nhà và vợ chồng ly thân. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn X.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1994 hiện đã thành niên, lao động được và Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 04/11/2010, hiện cháu H đang do chị nuôi dưỡng. Nay yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H, không yêu cầu anh Nguyễn Văn X cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết
- Bị đơn ông Nguyễn Văn X vắng mặt không lý do từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh X vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, anh cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, chị P có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh X và chị P theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: hôn nhân của anh, chị sau thời gian tìm hiểu và được gia đình hai bên đồng ý, hai người tự nguyện chung sống năm 1993, không tổ chức lễ cưới đến nay không có đăng ký kết hôn. Khi chung sống, sống chung với gia đình anh X, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh X tham gia tệ nạn xã hội, gây nợ nần chị P phải gánh vác trả thay, khi có rượu, bia kiếm chuyện đập phá đồ đạc trong nhà, tuy chị P có nhiều lần khuyên ngăn nhưng không thay đổi, anh X không quan tâm chăm sóc gia đình vợ con, anh X có hứa thay đổi sửa chữa nhưng sau đó vẫn không thay đổi, đến tháng 8/2024 anh X bỏ đi đến nay không quay về từ đó vợ chồng ly thân, sau khi ly thân anh X không tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P xin ly hôn, do hôn nhân của anh chị là hôn nhân không hợp pháp do anh, chị không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật thừa nhận, vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận anh X, chị P là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1994 hiện đã thành niên, lao động được và Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 04/11/2010, hiện cháu H đang do chị P nuôi dưỡng. Nay chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H, không yêu cầu anh Nguyễn Văn X cấp dưỡng cho con. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, con chung Như Ý đã thành niên và tự lao động nuôi sống được nên không cần đặt ra xem xét, cháu H sống với chị P cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, cháu cũng được đi học và có nguyện vọng sống với mẹ (chị P), do đó đề nghị hội đồng xét xử giao cháu H cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, anh X không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị P cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Kim P yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, bị đơn anh Nguyễn Văn X được tống đạt triệu tập lần thứ hai để nghe xét xử nhưng anh không có mặt, việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh Nguyễn Văn X cư trú tại ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (theo Phiếu xác minh của Công an nhân dân xã H ngày 23/12/2024) nên chị Nguyễn Kim P khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Kim P xin ly hôn với anh Nguyễn Văn X và yêu cầu giải quyết việc nuôi con, nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện hôn nhân của anh chị sau thời gian tìm hiểu và được gia đình hai bên đồng ý không tổ chức lễ cưới và chung sống năm 1993, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống, sống chung với gia đình anh X, thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh X không quan tâm gia đình chăm sóc vợ con, không có trách nhiệm với gia đình, còn tham gia cờ bạc, gây nợ chị P phải trả thay, chị P có khuyên can, thì anh X có hứa sửa đổi, nhưng sau đó vẫn không từ bỏ được. Mặt khác khi uống rượu về kiếm chuyện đập phá đồ trong gia đình, kéo dài đến tháng 8/2024 anh X bò đi đến nay không quay về từ đó vợ chồng ly thân, sau khi ly thân anh X không tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, vì vậy tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P xin ly hôn phù hợp, do anh chị không đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị không hợp pháp không được pháp luật thừa nhận do vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử không công nhận anh chị là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1994 hiện đã thành niên, lao động được và Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 04/11/2010, hiện cháu H đang do chị P nuôi dưỡng. Nay chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H, không yêu cầu anh Nguyễn Văn X cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, con chung Như Ý đã thành niên và tự lao động nuôi sống được nên không cần đặt ra xem xét, cháu H sống với chị P cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, cháu cũng được đi học và có nguyện vọng sống với mẹ (chị P), do đó hội đồng xét xử giao cháu H cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, anh X không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị P cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp và yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: chị Nguyễn Kim P là người xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
- - Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Nguyễn Kim P và anh Nguyễn Văn X là vợ chồng.
- - Về quan hệ con chung giao cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 04/11/2010, cho chị Nguyễn Kim P tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Nguyễn Văn X không phải cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản và nợ chung: không giải quyết.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011565 ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Nguyễn Văn X không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
| Võ Văn T Nguyễn Thị Kim C | Bùi Văn C1 |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện PT;
- - CCTHADS huyện PT;
- - TAND tỉnh An Giang;
- - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
| Bùi Văn Chiến |
Bản án số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 59/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
