Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 15-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương

Ông Huỳnh Thanh Trà

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tâm- Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/02/1991 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Phòng 404 Chung cư B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Văn Đ (sinh năm 1971) và bà Huỳnh Thị Mai P (sinh năm 1972); Bị cáo chưa có vợ Trần Thị Tuyết T (sinh năm 1995; đã ly hôn) và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Gia đình có 3 anh em; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;
  2. Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2011/HSST ngày 20/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 (đã xóa án tích); Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67 ngày 24/6/2015 của Công an phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái chép chất ma túy” (chấp hành xong); Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HSST ngày 10/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 (đã xóa án tích); Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07 ngày 03/02/2021 của Công an quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “ Xâm phạm sức khỏe của người khác” (đã hết thời hiệu).

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

  3. Huỳnh Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/10/1979 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: C đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: 0 C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông Huỳnh Thọ T1 (đã chết) và bà Lê Thị H1 (sinh năm 1953); Bị cáo có vợ là bà Lê Nguyễn Quỳnh N (sinh năm 1974, đã ly hôn) và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Gia đình có 4 anh, em; bị cáo là con thứ ba trong gia đình;
  4. Tiền án: Không;

    Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 284 ngày 21/9/2022 của Công an quận H, thành phố Đà Nẵng xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa chấp hành);

    Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145 ngày 18/8/2017 của Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong); Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 07/3/2018 của TAND quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích).

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người bị hại:

  1. Bà Đoàn Thị Song H2, sinh năm 1971; Địa chỉ: A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  2. Ông Huỳnh Thái T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: E đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Quốc T3, sinh năm 1983; Địa chỉ: D T, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  2. Ông Trần V, sinh năm 1970; Địa chỉ: A N, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Huỳnh Văn C và Huỳnh Ngọc H rủ nhau đi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/9/2023, C điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số: 43C1 - 978.94 chở theo 02 con nhỏ đi ngang qua nhà số A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. C thấy 01 chiếc thang đôi xếp của bà Đoàn Thị Song H2 để trên vỉa hè không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. C dừng xe, đi đến trộm cắp chiếc thang và chở đến cửa hàng H4 (địa chỉ: B T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng) do bà Phạm Thị Lệ H3 (sinh năm: 1964, trú địa chỉ trên) làm chủ để tìm người mua thang. C đã bán thang cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) đang mua hàng tại đây với giá 400.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Người đàn ông nêu trên gửi chiếc thang tại cửa hàng H4 rồi đi đâu không rõ. Chị H3 đã giao nộp cho Cơ quan Công an.

Lần 2: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/9/2023, C điều khiển xe mô tô nêu trên chở Huỳnh Ngọc H đi ngang qua nhà số A đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện có 01 chiếc thang đơn xếp của ông Huỳnh Thái T2 đang để trên vỉa hè không có người trông coi nên này sinh ý định trộm cắp. C dừng xe nói H ngồi trên xe nổ máy sẵn, cảnh giới còn C đi bộ tới trộm cắp chiếc thang. C và H điều khiển xe chở chiếc thang đến khu vực giao lộ đường N - T, C nói H đứng đợi, còn C đem chiếc thang đến trước địa chỉ B đường T, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng bán cho ông Trần V với giá 400.000 đồng, C chia cho H 200.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ:

  • Bà Phạm Thị Lệ H3 giao nộp: 01 chiếc thang đôi xếp, hiệu Nikawa, chất liệu kim loại, màu bạc, dài 08 mét;
  • Ông Trần Võ giao N1: 01 chiếc thang đơn xếp, hiệu Nikawa, chất liệu kim loại, màu bạc, dài 5,6 mét;
  • Huỳnh Văn C giao nộp: 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen, biển số 43C1978.94, số khung: RLHJF6333LZ525047, số máy: 94E0152286; dung tích xi lanh: 125cm²;
  • Bà Đoàn Thị Song H2 giao nộp: 01 đĩa CD chứa 01 đoạn video ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản tại địa chỉ số A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 26/9/2023.
  • Ông Huỳnh Thái T2 giao nộp: 01 đĩa CD chứa 02 đoạn video ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản tại địa chỉ số A đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 28/9/2023.

Theo Kết luận định giá tài sản số 111/KL-HĐĐG ngày 04/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận H, kết luận: 01 thang đôi xếp, loại 8m, bằng kim loại, đã qua sử dụng, có trị giá là 2.779.000 đồng; 01 thang đơn xếp, loại 5,6m, bằng kim loại, đã qua sử dụng, có trị giá là 2.093.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

  • Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại cho bị hại:
    • + Đoàn Thị Song H2: 01 chiếc thang đôi xếp, hiệu Nikawa, chất liệu kim loại, màu bạc, dài 08 mét;
    • + Huỳnh Thái T2: 1 chiếc thang đơn xếp, hiệu Nikawa, chất liệu kim loại, màu bạc, dài 5,6 mét;
  • Đối với xe mô tô biển số 43C1 - 978.94: Do ông Nguyễn Quang V1 (sinh năm: 1963, HKTT: K P, quận H, thành phố Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 30/8/2023, ông Vĩnh bản xe cho ông Trần Quốc T3 (sinh năm: 1983: HKTT: 44 T, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng). Ông T3 cho Huỳnh Văn C mượn để làm phương tiện đi lại. Ông T3 không biết việc phạm tội của C và H nên Cơ quan CSĐT Công an quận H trả lại xe cho ông T3 là có căn cứ.
  • Lưu trữ theo hồ sơ vụ án: 02 đĩa CD chứa các đoạn video ghi nhận các vụ việc.

Về dân sự: Các bị hại Đoàn Thị Song H2, Huỳnh Thái T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can. C và H đã trả lại tiền bán chiếc thang cho ông Trần Võ Ô Võ không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra, Huỳnh Văn C và Huỳnh Ngọc H đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp như trên. Lời khai của C, H phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn C, Huỳnh Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc H mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Lưu trữ theo hồ sơ vụ án: 02 đĩa CD chứa các đoạn video ghi nhận các vụ việc.

Đề nghị Tịch thu 400.000đ của bị cáo Huỳnh văn C sung công quỹ Nhà nước.

Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận: Ngày 26/9/2023, tại trước nhà số A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Huỳnh Văn C đã trộm cấp 01 chiếc thang đôi xếp của bà Đoàn Thị Song H2, trị giá 2.779.000 đồng; ngày 28/9/2023, tại trước nhà số A đường H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, C và Huỳnh Ngọc H đã trộm cắp 01 chiếc thang đơn xếp của ông Huỳnh Thái T2, trị giá 2.093.000 đồng. Như vậy, C đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.872.000 đồng; H đã thực hiện 01 lần trộm cắp tài sản, trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.093.000 đồng nên cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 34/CT-VKSHC ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Văn C và Huỳnh Ngọc H là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người khác lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người trưởng thành, đang trong độ tuổi lao động và đầy đủ sức khỏe để lao động thu nhập được những đồng lương chân chính nhưng vì muốn có nhiều tiền để tiêu xài mà không cần bỏ sức lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản để phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng đi chấp hành án nhiều lần nhưng không nhưng không lấy đó để tiếp tục làm công dân tốt mà đi vào con đường phạm tội nên Hội đồng xét xử thấy cần phải quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích răn đe và giáo dục.

[4] Xét vai trò, nhân thân của từng bị cáo thì thấy:

Trong vụ án này các bị cáo không cùng nhau bàn bạc, thống nhất việc đi trộm cắp mà lợi dụng sơ hở của người khác bộc phát việc trộm cắp tức thì, các bị cáo sau khi trộm cắp bán tài sản và phân chia tiền nhau để tiêu xài cá nhân. Trong vụ án này, bị cáo C là người hai lần thực hiện hành vi trộm cắp và rủ rê bị cái H cùng thực hiện hành vi phạm tội nên hình phạt đối với bị cáo C cao hơn bị cáo H.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo C 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp nên thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra gia đình bị cáo C có hoàn cảnh khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ khi lượng hình cho các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Lưu trữ theo hồ sơ vụ án: 02 đĩa CD chứa các đoạn video ghi nhận các vụ việc.

[7] Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng) của bị cáo C do thu lợi bất chính.

[8] Về dân sự: Các bị hại Đoàn Thị Song H2, Huỳnh Thái T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. C và H đã trả lại tiền bán chiếc thang cho ông Trần V, ông V không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[9] Đối với ông Trần V và người đàn ông mua lại 02 chiếc tháng từ Huỳnh Văn C nhưng không biết đây là tài sản do C trộm cắp mà có; ông Trần Quốc T3 có hành vi cho C mượn xe mô to BKS 43C1-978.94 nhưng không biết C sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề cập xử lý là có căn cứ.

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

[11] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn C, Huỳnh Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

  1. Áp dụng: Điểm khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024.

  3. Áp dụng: Điểm khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  4. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2024.

II. Về xử lý vật chứng:

Lưu trữ theo hồ sơ vụ án: 02 đĩa CD chứa các đoạn video ghi nhận các vụ việc.

III. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng) của bị cáo C do thu lợi bất chính.

IV. Án phí HSST:

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí HSST các bị cáo Huỳnh Văn C, Huỳnh Ngọc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

IV. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Cơ quan THAHS quận Hải Châu;
  • - Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM THỊ NGỌC HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP. ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger