|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/ 2024/ HS-ST Ngày: 15/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Lã Hoàng Giáp.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Ông Đinh Duy Quyết.
-Thư ký phiên toà: bà Bùi Hồng Mơ- Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Thu Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST – HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/ QĐXXST – HS ngày 31tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1994; Nơi sinh: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị Đ; chưa có vợ con.
Tiền án: Tại Bản án số 48/2018/HSST ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xử phạt Nguyễn Văn L 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Lộc chấp hành xong ngày 27/9/2022.
Tiền sự: tại Quyết định số 11 ngày 21/10/2023 của UBND xã G, huyện G, phạt Nguyễn Văn L 2.000.000 đồng về hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 12/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh tỉnh N. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.(có mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác:
- + Người làm chứng: bà Nguyễn Thị V.(vắng mặt)
- + Người chứng kiến: ông Đinh Nguyên B. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 40 phút 03/6/2024Tổ công tác Công an xã G tiến hành kiểm tra cư trú tại nhà nghỉ T; Tổ công tác tiến hành kiểm tra xe mô tô biển kiểm soát 36B1 – 639.83 do Nguyễn Văn L điều khiển đến để tại lán để xe của nhà nghỉ T. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, L tự nguyện lấy từ hộc để đồ phía trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 36B1 – 639.83 gồm 04 túi nhỏ nilon màu trắng, mỗi túi đều có kích thước khoảng (2,5x1,5)cm, bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng (có 03 túi trên miệng túi có viền mầu đỏ còn 01 túi trên miệng túi không có đường viền) L vừa mua được và 01 cóng thủy tinh có hình trụ mầu trắng, đường kính 0,6cm, dài 14cm, uốn khúc hình chữ U cao 03 cm, bầu cóng hình cầu đường kính 1,3cm có 01 lỗ tròn đường kính 0,6cm, bên trong bầu có bám dính chất dạng tinh thể mầu nâu giao nộp cho lực lượng Công an. L khai nhận 04 túi nilon trong mỗi túi chứa chất dạng tinh thể mầu trắng là ma túy đá, L mua về nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 01 cóng thủy tinh và 04 túi ma túy có đặc điểm nêu trên của L. Ngoài ra, còn thu giữ của L 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B1 – 639.83, số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu REDMI màu xanh. Sau đó, Tổ công tác đưa L cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai nhận sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2016 đến nay. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 03/6/2024, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B1 – 639.83 đi từ nhà ở thôn C, xã G, huyện G, mang theo 01 cóng thủy tinh và số tiền 1.000.000 đồng đến khu vực chân cầu N, thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để tìm mua ma túy (loại ma túy đá). L gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 1.000.000 đồng ma túy đá. Người này cầm tiền rồi đưa cho L 04 túi nhỏ nilon màu trắng, mỗi túi đều có kích thước khoảng (2,5x1,5)cm, bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng (có 03 túi trên miệng túi có viền mầu đỏ còn 01 túi trên miệng túi không có đường viền). L cất 04 túi ma túy vào trong hộc để đồ phía trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 36B1 – 639.83 rồi điều khiển xe đi đến nhà nghỉ T, thuộc thôn L, xã G, huyện G để gặp Trần Quốc L3, sinh năm 1993, trú tại phố M, thị trấn M, huyện G đang thuê phòng nghỉ ở đó, nhằm mục đích lấy tiền mà trước đó L3 có vay của L. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, L đến phòng số 05 của nhà nghỉ T thì gặp Phạm Quang V1, sinh năm 1999, trú tại xóm A, xã L, huyện G và Trần Hồng P, sinh năm 1997, trú tại xã Đ, huyện N đang nằm ở trong phòng. Khoảng 20 phút sau thì L3 đi về phòng, tại đây L3 trả L 2.000.000 đồng tiền L3 nợ L; đến khoảng 09 giờ 40 cùng ngày thì bị cơ quan công an phát hiện như trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong 04 túi thu giữ của Nguyễn Văn L có khối lượng lần lượt là: 0,21 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M1; 0,17 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M2; 0,15 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M3; 0,13 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M4, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy. Ngày 23/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy đối với 01 cóng thủy tinh thu giữ của Nguyễn Văn L (được niêm phong trong phong bì, ký hiệu là B) và 01 cóng thủy tinh thu giữ của Trần Quốc L3 (được niêm phong trong phong bì, ký hiệu là C).
Tại Kết luận giám định số 509/KL-KTHS-MT ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2102 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1719 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 0,1521 gam, ký hiệu M4 có khối lượng 0,1289 gam. Tổng khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3, M4 là 0,6631gam.
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3, M4 đều là ma túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H lại đối tượng giám định gồm: Các mẫu gửi giám định còn lại ký hiệu M1 có khối lượng 0,1242 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1111 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 0,0803 gam, ký hiệu M4 có khối lượng 0,0655 gam, đều là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 509/KL-KTHS-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 825/KL-KTHS-MT ngày 27/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Chất dạng tinh thể mầu nâu bám dính trong cóng thủy tinh gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Chất dạng tinh thể mầu nâu bám dính trong cóng thủy tinh gửi giám định ký hiệu C là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.
Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H lại đối tượng giám định gồm: 02 cóng thủy tinh của mẫu ký hiệu B và C.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 60/CT-VKS-GV ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Nguyễn Văn L ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03/6/2024.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 825/KL-KTHS-MT, bên trong gồm 01 cóng thủy tinh có hình trụ mầu trắng, đường kính 0,6cm, dài 14cm, uốn khúc hình chữ U cao 03 cm, bầu cóng hình cầu đường kính 1,3cm có 01 lỗ tròn đường kính 0,6cm, bên trong bầu có bám dính chất dạng tinh thể mầu nâu, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ghi số 509/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắngcòn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1242 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1111 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 0,0803 gam, ký hiệu M4 có khối lượng 0,0655 gam, đều là ma túy, loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 04 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2,5x1,5)cm, gồm 03 túi trên miệng túi có viền mầu đỏ và 01 túi trên miệng túi không có đường viền, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu ký hiệu A; Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- + Trả lại số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI thu giữ của Nguyễn Văn L không liên quan đến hành vi phạm tội
- - Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp Kết luận giám định số 509/KL-KTHS-MT ngày 11/6/2024của Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn L không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép cất giữ, quản lý, mua bán, vận chuyển hoặc sử dụng chất ma túy. Hồi 09 giờ 40 phút ngày 03/6/2024, tại nhà nghỉ T, thuộc thôn L, xã G, huyện G, Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,6631 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm :
...c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Bị cáo Nguyễn Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi cất giấu trái phép Methamphetamine của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túycất giấu để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn L chưa được xóa án tích tại bản án số 48/2018/HSST ngày 31/8/2018 của TAND huyện Gia Viễn; đến ngày 03/6/2024 L tiếp tục phạm tội do cố ý,vì vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định cùng các dụng cụ để sử dụng ma túy, các vỏ bao gói niêm phong, túi nilon đựng ma túy thu giữ của L là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, sử dụng; không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI thu giữ của Nguyễn Văn L,quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của L, không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy cần trả lại cho Nguyễn Văn L nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B1 – 639.83 thu giữ của Nguyễn Văn L, quá trình điều tra xác định: chiếc xe là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn L2 (là em trai của L). Ngày 03/6/2024, L mượn xe của anh L2 để đi mua ma túy, anh L2 hoàn toàn không biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã trả lại chiếc xe trên cho anh L2 do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 phong bì ghi số 825/KL-KTHS-MT, bên trong gồm 01 cóng thủy tinh, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, 01 bật lửa ga mầu vàng, 01 chai nước nhãn hiệu Sting thu giữ của Trần Quốc L3, xác định không liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã tiến hành tiêu hủy theo quy định của pháp luật do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự ;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố:bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội"Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 27(hai mươi bẩy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/6/2024.
- Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 825/KL-KTHS-MT, bên trong gồm 01 cóng thủy tinh có hình trụ mầu trắng, đường kính 0,6cm, dài 14cm, uốn khúc hình chữ U cao 03 cm, bầu cóng hình cầu đường kính 1,3cm có 01 lỗ tròn đường kính 0,6cm, bên trong bầu có bám dính chất dạng tinh thể mầu nâu, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ghi số 509/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắngcòn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1242 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1111 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 0,0803 gam, ký hiệu M4 có khối lượng 0,0655 gam, đều là ma túy, loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 04 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2,5x1,5)cm, gồm 03 túi trên miệng túi có viền mầu đỏ và 01 túi trên miệng túi không có đường viền, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu ký hiệu A.
- - Trả lại cho Nguyễn Văn L số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
- (Căn cứ ủy nhiệm chi ngày 28/10/2024.Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 25/10/2024.).
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/11/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hoàng Giáp |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TTTPCMT
