|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN ——————— |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 11 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Đức và ông Phan Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 29/11/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 228/2024/HNGĐ-ST ngày 02/10/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST - HN&GĐ, ngày 31/10/2024, giữa:
-
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thu T, sinh năm 1999;
Nơi cư trú: Xóm H, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Trung T1, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Xóm H, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt các bên đương sự tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, tại phiên tòa nguyên đơn chị Ngô Thị Thu T2 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 kết hôn năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND xax C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới, hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại nhà bố, mẹ đẻ anh T1 tại xã C, huyện Đ. Cuộc sống hạnh phúc được thời gian ngắn phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do anh T1 chơi bời, đi sớm, về khuya không quan tâm đến gia đình, vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi vã và xô sát. Mặc dù mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung. Từ gần 3 tháng nay chị đưa con về nhà ngoại ở, anh T1 cũng không hề quan tâm. Nay chị xác định tình cảm không còn, không mong muốn đoàn tụ để xây dựng cuộc sống chung. Chị đề nghị được ly hôn để ổn định cuộc sống. Quá trình hòa giải tại Tòa án, ngày 18/10/2024 anh T1 đã đồng ý ly hôn, Tòa án đã lập Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành giữa chị và anh T1. Tuy nhiên, ngày 25/11/2024, anh T1 có đơn đề nghị thay đổi thỏa thuận và không đồng ý ly hôn để được đoàn tụ.
Tại phiên tòa hôm nay chị vẫn giữ nguyên quan điểm theo đơn khởi kiện, đề nghị được Tòa án giải quyết cho ly hôn, không đồng ý đoàn tụ, bởi giữa chị và anh T1 không có tiếng nói chung, khoảng thời gian chung sống anh T1 thường gây bạo lực cho chị, không dưới hai lần chị phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Do vậy, chị không đồng ý đoàn tụ cuộc hôn nhân không có hạnh phúc
Về con chung: Quá trình chung vợ chồng có 01 con chung cháu: Nguyễn Minh N, sinh ngày 05/8/2020. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Về nợ chung, khoản cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Tại bản tự khai và tại phiên tòa anh Nguyễn Trung T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký như chị T2 đã trình bày tại phiên tòa là hoàn toàn đúng. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng chỉ được thời gian ngắn phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu cả hai không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Nay chị T có đơn ly hôn anh không đồng ý vì cảm thấy vẫn còn tình cảm nên mong muốn đoàn tụ, anh hứa sửa chữa sai lầm để con chung của hai người có cuộc sống sung túc có bố mẹ dạy bảo đến khi trưởng thành. Vì vậy, anh đã có đơn thay đổi việc thuận tình ly hôn. Mong muốn Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ.
Tại phiên tòa anh mong muốn chị T2 suy nghĩ và quay về đoàn tụ. Tuy nhiên, chị T2 vẫn cương quyết ly hôn, anh vẫn không đồng ý mà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung: cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 05/8/2020. Trường hợp chị T3 cương quyết ly hôn và đề nghị được nuôi con anh không có ý kiến gì. Anh sẽ cấp dưỡng nuôi con chung theo khả năng thu nhận.
Về tài sản chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Khoản nợ chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đại Từ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, 96, Điều 97 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đại diện VKS không có ý kiến đề nghị, kiến nghị gì.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016, ra bản án với các nội dung sau:
- -Về quan hệ hôn nhân: Cho chị T2 được ly hôn anh T1.
- - Về con chung: Đề nghị giao con chung cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 05/8/2020 cho mẹ là chị T2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Chị T2 không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T1 cho đến khi có yêu cầu.
- - Về tài sản chung: Không có nên không đặt ra việc giải quyết
- - Về nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
- - Án phí: Chị T2 phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
- - Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Bị đơn anh Nguyễn Trung T1 có hộ khẩu thường trú tại xóm H, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do vậy, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, xác định thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
[2.1]. Về thủ tục hòa giải: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành. Tuy nhiên, bị đơn có đơn thay đổi nội dung đã thỏa thuận trong Biên bản ghi nhận tại phiên hòa giải, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Do vậy, Tòa án tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại Điều 220 của của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2]. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, bị đơn anh Nguyễn Trung T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh T1 có mặt để tham gia xét xử vụ kiện. Do đó, thời hạn kháng cáo của anh T1 được thực hiện theo thủ tục đối với đương sự có mặt tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.3]. Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị Thu T2 với anh Nguyễn Trung T1, Hội đồng xét xử thấy: Chị Ngô Thị Thu T2 với anh Nguyễn Trung T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2020, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng chỉ được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên tòa cả chị T2 và anh T1 thừa nhận mâu thuẫn phát sinh do từ cả hai phía, việc mâu thuẫn vợ chồng chỉ là nhỏ nhặt, cho đến nay vợ chồng ly thân chị trả bỏ về nhà ngoại sinh sống từ khoảng 3 tháng nay, Anh T1 có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình nên không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa anh T1 cũng thừa nhận vợ chồng có xảy ra việc mâu thuẫn anh có bạo lực. Chị T cho rằng từ khi kết hôn với anh T1 chị nhiều lần bị ngược đãi phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ, anh T1 cũng thừa nhận tại phiên tòa việc mâu thuẫn vợ chồng chỉ là nhất thời nên mong chị trả suy nghĩa lại để đoàn tụ gia đình.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T2 đối với anh T1, Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù anh T1 không đồng ý ly hôn và mong muốn đoàn tụ, anh T1 cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là nhỏ nhặt không đến nỗi phải ly hôn đề nghị được đoàn tụ gia đình để nuôi dậy con chung trưởng thành. Về nguyện vọng xin đoàn tụ gia đình của anh T1 là chính đáng, bởi mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xong bản thân cả hai không còn tôn trọng nhau, tại phiên tòa chị T2 vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị được ly hôn để giải thoát cho cả hai. Điều này phù hợp với lời trình bày của ông Nguyễn Xuân T4 – là bố đẻ anh T1, được ông cung cấp thông tin: Anh T1 sau khi kết hôn với chị T chung sống cùng gia đình ông, vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa gay gắt, có cãi vã một vài lần.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; có nghĩa vụ chung sống với nhau...”. Thực tế cuộc sống của cả hai đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T2 cho chị T2 được ly hôn với anh T1 là phù hợp theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2].Về con chung: Với quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 05/8/2020. Chị T2 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng,
Tại phiên mặc dù anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng thể hiện quan điểm trường hợp phải ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị T2 trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng anh và chị T2 tự thỏa thuận. Hội đồng xét xử thấy, giữa chị T2 và anh T1 có sự thống nhất về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con. Do đó, ghi nhận sự thỏa thuận của cả hai tiếp tục giao con chung cho chị T2 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị trả không yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T1 cho đến khi có yêu cầu là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh T1 được quyền đi lại thăm, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.
[3.3]. Về tài sản chung: Không có nên đặt ra giải quyết trong vụ án.
[3.4]. Về khoản nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có nên không đặt ra việc giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị T2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
[5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[6]. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tại phiên toà là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ngô Thị Thu T2 với anh Nguyễn Trung T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị thu T2 được ly hôn với anh Nguyễn Trung T1.
- Về con chung:
Giao con chung: cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 05/8/2020, cho chị Ngô Thị Thu T2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc cho đến khi có sự thay đổi người nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị T2 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T1 cho đến khi có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi về cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không có nên không đặt ra việc giải quyết.
- Về nợ chung, cho vay chung: Không có, không đặt ra việc giải quyết.
- Về án phí: Chị Ngô Thị Thu T2 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, chị trả được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, theo biên lai thu số 0005579 ngày 02/10/2024. Xác nhận chị T2 đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bên đương sự tại phiên toà. Báo cho biết các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét mâu thuẫn vợ chồng không có khả năng đoàn tụ. HĐXX cho ly hôn
