Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY ĐỨC

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số 59/2024/HS-ST

Ngày 25 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Phạm Thiên Viết.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Kpă Plêh

(tên gọi khác: Không), sinh năm 1982 tại tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký thường trú: Làng P, xã C, huyện C, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; con ông Rơ Ma H (đã chết) và bà Kpă H1, sinh năm 1957; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/8/2024 đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam - có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Kpă P:

  • - Ông Y L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông - có mặt.
  • - Ông Phạm Quang L1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông - có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1985; địa chỉ: Bon Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 8 năm 2024, Kpă P đến làm thuê cho gia đình ông Đinh Thanh T, bon Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 04/8/2024, Kpă P đi bộ từ nhà ông T đến quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị Hồng N để đổi bình nước. Khi đến nơi, Kpă P thấy không có người trông coi quán, quan sát dưới quầy hàng, có một thùng giấy, bên trong có một xấp tiền; gồm các mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng và 50.000 đồng nên đã nảy sinh ý định trộm cắp; Kpă Plêh tiến lại gần thùng đựng tiền, rút một số tờ tiền mệnh giá khác nhau và cất vào trong túi áo khoác đang mặc trên người. Một lúc sau, bà N đi ra đổi bình nước, Kpă P vác bình nước, đi bộ về và cất giấu số tiền trộm cắp được dưới bàn thờ ông địa của nhà ông T. Bà N phát hiện bị mất số tiền 5.150.000 đồng nên đã trình báo, Công an xã Q đã mời Kpă Plêh đến làm việc; Kpă P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp số tiền 5.150.000 đồng.

Vật chứng đã thu giữ, gồm: Số tiền 5.150.000 đồng; 01 áo khoác dài tay màu đen không nhãn mác; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu nâu không nhãn mác: 01 đầu đọc thẻ nhớ màu vàng, trên thân có in dòng chữ "ACTIVE Plus USB 5.0" màu trắng; 01 thẻ nhớ màu xanh trên có in dòng chữ “hoco 4GB" màu trắng.

Cáo trạng số 63/CT-VKS-TĐ ngày 29/10/2024, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Kpă P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 04/8/2024, tại quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị Hồng N, bon Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Kpă P đã có hành vi trộm cắp số tiền 5.150.000 đồng của bà N. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Kpă P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Kpă P từ 09 tháng tù đến 01 năm tù. Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại số tiền 5.150.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Hồng N.

Trả lại trả lại 01 áo khoác dài tay màu đen không nhãn mác; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu nâu không nhãn mác cho Kpă P do không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với 01 đầu đọc thẻ nhớ màu vàng, trên thân có in dòng chữ "ACTIVE Plus USB 5.0" màu trắng; 01 thẻ nhớ màu xanh trên có in dòng chữ "hoco 4GB" màu trắng tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng N đã nhận lại tiền và có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xử lý.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng ý với đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo có một phần lỗi do sơ hở của bị hại, tài sản trộm cắp được đã được hoàn trả; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, phải đi làm thuê; áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, bằng thời hạn tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa; bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên toà, bị cáo Kpă P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Do ý thức xem thường pháp luật nên khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 04/8/2024, tại quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị Hồng N, bon Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Kpă P đã có hành vi trộm cắp số tiền 5.150.000 đồng của bà N. Do đó, đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Kpă P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, do ý thức coi thường pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội gây thiệt hại không lớn; bị hại bà Nguyễn Thị Hồng T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, bằng thời hạn tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị của người bào chữa là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng T1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[6] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với số tiền 5.150.000 đồng là tài sản của bà Nguyễn Thị Hồng N, Cơ quan điều tra đã trả lại là có căn cứ pháp luật.

Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen không nhãn mác; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu nâu không nhãn mác là tài sản của Kpă P, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 đầu đọc thẻ nhớ màu vàng, trên thân có in dòng chữ "ACTIVE Plus USB 5.0" màu trắng; 01 thẻ nhớ màu xanh trên có in dòng chữ "hoco 4GB" màu trắng tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Đối với ông Đinh Thanh T chủ nhà nơi Kpă Plêh làm thuê và cất giấu tiền trộm cắp, ông T không biết việc Kpă Plêh trộm cắp nên không đề cập xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Kpă P là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Kpă P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Kpă P 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/8/2024.

2. Về việc xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trả lại số tiền 5.150.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Hồng N.

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đầu đọc thẻ nhớ màu vàng, trên thân có in dòng chữ "ACTIVE Plus USB 5.0" màu trắng; 01 thẻ nhớ màu xanh trên có in dòng chữ "hoco 4GB" màu trắng.

Trả lại trả lại 01 áo khoác dài tay màu đen không nhãn mác; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu nâu không nhãn mác cho Kpă P.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Kpă P.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PV06, PC10 CA tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Tuy Đức;
  • - CA huyện Tuy Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức;
  • - Bị cáo; bị hại; người bào chữa;
  • - Lưu HSVA, THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger