|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29 tháng 10 năm 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thuỷ.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 285/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy N, sinh năm 2000;
HKTT: Số F, ngõ A, đường L, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Chị N xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1994;
HKTT: Thôn Đ, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi tạm trú: Số A N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
(Anh H xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thúy N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Việt H kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại gia đình nhà anh H tại thôn B (nay là thôn Đ), xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chị và anh H sống tại nhà H được khoảng 2-3 tháng thì chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị tại Số F, ngõ A, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang sinh sống. Đến năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống, tính cách không còn hòa hợp. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Chị và anh H đã ly thân được 02 năm nay, mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm gì đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn để đoàn tụ nên tôi đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Nguyễn Việt H.
Về con chung: Chị và anh H có 1 con chung là Nguyễn Bảo T sinh ngày 28/01/2019. Hiện nay con chung đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi con chung và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung 3 triệu đồng/tháng. Hiện nay chị đang làm nghề spa (chăm sóc sắc đẹp), thu nhập khoảng 10 triệu/ tháng nên đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và anh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Việt H trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thúy N kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Đến năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống, tính cách không còn hòa hợp, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Anh và chị N đã ly thân được 02 năm nay, mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm gì đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn để đoàn tụ nên chị N đề nghị Tòa án cho ly hôn thì quan điểm của anh là đồng ý.
Về con chung: Anh và chị N có 1 con chung là Nguyễn Bảo T sinh ngày 28/01/2019. Hiện nay con chung đang ở cùng chị N. Sau khi ly hôn, anh đồng ý chị N được nuôi con chung và anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 3 triệu đồng/tháng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh và chị N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ.
- Tại Biên bản xác minh ngày 25/10/2024, tổ trưởng tổ dân phố T, phường X, thành phố B cung cấp: Quá trình chung sống tại địa phương, vợ chồng chị N, anh H có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân thì địa phương không rõ. Năm 2022, khi mâu thuẫn đỉnh điểm thì vợ chồng ly thân, mỗi người sống một nơi. Hiện chỉ có chị N và con sinh sống tại địa phương. Chị N có công việc, có nhà ở ổn định để đảm bảo việc nuôi con.
- Tại Biên bản làm việc ngày 15/10/2024, ông Nguyễn Văn B (bố đẻ chị N) cung cấp: Chị N và anh Nguyễn Việt H kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chị N và anh H có sống cùng gia đình ông tại số F, ngõ A, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang từ khoảng năm 2019 đến năm 2020 thì vợ chồng Nga H1 vào thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, sinh sống. Đến năm 2022, vợ chồng Nga H1 có mâu thuẫn, chị N về Bắc Giang sống cùng vợ chồng ông còn anh H1 vẫn ở lại thành phố Hồ Chí Minh. Ông có nghe chị N nói nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là bất đồng về kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Từ năm 2022, anh H1 và chị N ly thân, mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm gì đến ai. Nay chị N xin ly hôn anh H1, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị N và anh H1 có 1 con chung là Nguyễn Bảo T sinh ngày 28/01/2019. Hiện nay con chung đang ở cùng chị N. Chị N đang làm nghề spa (chăm sóc sắc đẹp), thu nhập thu nhập cụ thể bao nhiêu thì ông không rõ.
*Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được vì bị đơn anh H1 vắng mặt.
*Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều xin vắng mặt, giữ nguyên quan điểm trong hồ sơ vụ án.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thúy N được ly hôn anh Nguyễn Việt H.
- + Về con chung: Giao chị Nguyễn Thúy N nuôi con chung Nguyễn Bảo T-sinh ngày 28/01/2019. Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 11/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
- + Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- + Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thúy N hiện đang thường trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Anh Nguyễn Việt H hiện đang tạm trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Chị N, anh H thoả thuận lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang là Toà án nơi cư trú của nguyên đơn chị N để giải quyết vụ án. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền, đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị N và bị đơn anh H đều xin vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh H kết hôn ngày 26/11/2018 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị N và anh H có mâu thuẫn, đã ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nhưng anh H xin vắng mặt, chị N cương quyết ly hôn chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị N về việc ly hôn anh H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung:
[4.1] Chị N và anh H có một con chung Nguyễn Bảo T-sinh ngày 28/01/2019, hiện đang sống cùng chị N. Xét thấy, hiện nay chị N có việc làm, nơi ở ổn định, có đề nghị nuôi con chung và anh H cũng đồng ý để chị N nuôi con nên cần giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng, anh H đồng ý. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên cần chấp nhận yêu cầu cầu của chị N, buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 11/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
[4.3] Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thúy N được ly hôn anh Nguyễn Việt H.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thúy N nuôi con chung Nguyễn Bảo T-sinh ngày 28/01/2019. Anh Nguyễn Việt H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 11/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Anh Nguyễn Việt H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thúy N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 000018 ngày 03/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Anh Nguyễn Việt H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thúy N - Nguyễn Việt H ly hôn
