TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST Ngày 08/10/2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Vĩnh
Bà Đàm Thị Thanh Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024; các Quyết định hoãn phiên toà sơ thẩm số: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, số: 22/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024; Thông báo về việc mở lại phiên toà số: 96/2024/TB-TA ngày 13 tháng 8 năm 2024; các Quyết định hoãn phiên toà sơ thẩm số: 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, số: 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 và số: 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1985; nơi cư trú: số nhà A, tổ F, khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: A (Từ Úy Í), sinh năm 1979; quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan); địa chỉ: số D V, xóm C, phường K, khu V, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Thu T trình bày:
Chị Lê Thị Thu T quen biết và yêu anh A (Từ Úy Í) từ năm 2017, khi đi lao động tại Đài Loan. Sau một thời gian tìm hiểu thì chị T và anh HSU WEI I (Từ Úy Í) quyết định lập gia đình và cùng về Việt Nam tổ chức đám cưới vào năm 2019. Chị T kết hôn với anh A (Từ Úy Í) trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 18/12/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị T tại số nhà A, tổ F khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh được khoảng hai tuần lễ thì anh A (Từ Úy Í) trở về Đài Loan sinh sống và làm việc còn chị T ở lại Việt Nam chờ làm thủ tục để sang Đài Loan cùng anh HSU WEI I (T). Thời gian đầu xa nhau tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, vẫn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nhưng lâu dần do xa nhau nên bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến xảy ra cãi vã khi mỗi lần gọi điện nói chuyện. Sau đó là ít liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Do mới đăng ký kết hôn xong thì mỗi người một nước khác nhau, thời gian chung sống hạnh phúc với nhau rất ngắn ngủi lại không có con chung và tài sản chung ràng buộc nên chị T quyết định không sang Đài Loan sinh sống cùng anh HSU WEI I (T) nữa. Chị T xác định không còn tình cảm, không muốn tiếp tục chung sống với anh HSU WEI I (Từ Úy Í) nữa, chị T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho ly hôn với anh H WEI I (T).
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có, chị Lê Thị Thu T không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh HSU WEI I ( Từ Úy Í): là người Đài Loan (Trung Quốc) và theo yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Thu T, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa; các tài liệu, giấy tờ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu T; yêu cầu anh Hsu W I (T) có mặt theo thời gian, địa điểm mà Toà án đã thông báo để giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Thu T đối với anh Hsu W I (T). Đề nghị anh HSU WEI I (Từ Úy Í) phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu T.
Ngày 28/6/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận được Công văn số: 1535/BTP-PLQT ngày 10/6/2024, của Bộ Tư pháp về kết quả uỷ thác, với nội dung: Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan không thực hiện được uỷ thác tư pháp do địa chỉ không chính xác.
Ngày 25/7/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh có Công văn số: 18/2024/TA-TGĐ “V/v đăng tin thông báo Văn bản tố tụng dân sự” gửi Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ có nội dung đăng tin thông báo về: thời gian, địa điểm mở phiên tòa lần 1 và mở lại phiên tòa lần 2. Đồng thời, đăng tin thông báo về: thời gian, địa điểm mở phiên tòa lần 1 và mở lại phiên tòa lần 2 trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đến nay, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không nhận được kết quả của Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ.
Ngày 27/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh có Công văn số: 24/2024/TA-TGĐ “V/v đăng tin thông báo Văn bản tố tụng dân sự” gửi Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ có nội dung đăng tin thông báo về: thời gian, địa điểm mở phiên tòa lần 1 và mở lại phiên tòa lần 2. Đồng thời, đăng tin thông báo về: thời gian, địa điểm mở phiên tòa lần 1 và mở lại phiên tòa lần 2 trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đến nay, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không nhận được kết quả của Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Lê Thị Thu T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu T như nêu trên. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Thu T đối với anh Hsu W I (T); về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, chị Lê Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu T và tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn”; bị đơn anh Hsu W I (Từ Úy Í), sinh năm 1979, quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan); địa chỉ: số D V, xóm C, phường K, khu V thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Quá trình giải quyết vụ án, anh A (T) đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa; các tài liệu, giấy tờ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu T thông qua Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp đã gửi Cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan thực hiện ủy thác tư pháp.
Cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp bằng phương thức tống đạt cho anh Hsu W I (Từ Úy Í) nhưng không tống đạt được với lý do “địa chỉ không chính xác”. Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đến nay, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không nhận được kết quả của Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ.
Đến nay, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa nhận được lời khai; tài liệu, chứng cứ của bị đơn anh Hsu W I (Từ Úy Í). Tại các phiên tòa và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Hsu W I (Từ Úy Í) đều vắng mặt, không có đơn xin vắng mặt; nguyên đơn chị Lê Thị Thu T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Thu T và anh Hsu W I (Từ Úy Í) đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 18/12/2019, trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, chị T và anh HSU WEI I (Từ Úy Í) về chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị T thuộc số nhà A, tổ F khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh được khoảng hai tuần thì anh A (Từ Úy Í) trở về Đài Loan sinh sống và làm việc còn chị T ở lại Việt Nam chờ làm thủ tục sang Đài Loan chung sống cùng anh HSU WEI I (T). Thời gian đầu xa nhau tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, vẫn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nhưng do cách xa nhau về địa lý nên bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến xảy ra cãi vã khi mỗi lần gọi điện nói chuyện với nhau. Sau đó chị T và anh H WEI I (Từ Úy Í) ít liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị T xác định không còn tình cảm, không muốn tiếp tục chung sống với anh HSU WEI I (Từ Úy Í) nữa, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H WEI I (T).
Đối với bị đơn anh HSU WEI I (T), Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa; các tài liệu, giấy tờ liên quan đến yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Thu T; yêu cầu anh HSU WEI I (T) có mặt theo thời gian, địa điểm mà Toà án đã thông báo để giải quyết vụ án; đề nghị anh HSU WEI I (T) phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu T nhưng không tống đạt được với lý do “địa chỉ không chính xác”.
Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được lời khai; tài liệu, chứng cứ của anh H WEI I (T). Tại các phiên tòa, bị đơn anh HSU WEI I (Từ Úy Í) đều vắng mặt, không có đơn xin vắng mặt.
Căn cứ quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị Lê Thị Thu T và anh HSU WEI I (Từ Úy Í) không còn tồn tại đời sống chung của vợ chồng, không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thu T đối với anh A (T).
[2.2] Về con chung: không có, chị Lê Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Lê Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí, lệ phí sơ thẩm: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 47 và Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 và Điều 44 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lê Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chị T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0016272 ngày 12/7/2023 và Biên lai thu tiền phí, lệ phí số: 0096815 ngày 12/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
[4] Về chi phí tố tụng: chị Lê Thị Thu T tự nguyện chi phí, nên không đề cập.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; Điều 149; khoản 3 Điều 153; khoản 2 Điều 154; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 3 Điều 474 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 và Điều 44 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu T.
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Thu T được ly hôn với anh H WEI I (T).
[2] Về con chung: không có.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có.
[4] Về án phí, lệ phí sơ thẩm: chị Lê Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chị T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0016272 ngày 12/7/2023 và Biên lai thu tiền phí, lệ phí số: 0096815 ngày 12/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
[5] Về chi phí tố tụng: chị Lê Thị Thu T tự nguyện chịu chi phí, nên không đề cập.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Lê Thị Thu T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hsu W I (Từ Úy Í) có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 08/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
