|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 19/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Huân và ông Huỳnh Quốc Thái;
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Phi Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 22/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 04/9/2024, đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN THANH S, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1979 tại ĐN;
HKTT: Khu phố B, Thị trấn TM, huyện HT, tỉnh BT; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn S1 (chết) và bà Lâm Thị N;
Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con lớn nhất;
Sống chung với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn với Thạch Thị C;
Có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2023;
Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 07/01/2021, bị tạm giữ từ ngày 07/01/2021 đến ngày 16/01/2021 được trả tự do. Đến ngày 29/3/2023, bị cáo tiếp tục phạm tội mới nên bị bắt quả tang. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
2. LÂM THANH T, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1991 tại BT;
HKTT: Thôn H, xã TĐ, huyện HT, tỉnh BT; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh;
1
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Lâm Bá T (chết) và bà Nguyễn Thị Xuân L;
Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai;
Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
3. THẠCH THỊ C, (Tên gọi khác: P), sinh năm 1998 tại VL;
HKTT: MT, T, T, VL;
Nơi tạm trú: Khu phố C, T, H, tỉnh BT;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Khơ me;
Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Cha: Không rõ; Mẹ: Thạch Thị T1;
Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn;
Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thanh S, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015 và con nhỏ nhất sinh năm 2023
Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 07/01/2021, bị tạm giữ từ ngày 07/01/2021 đến ngày 16/01/2021 được trả tự do. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1990; HKTT: TQ, M, ST; Chỗ ở: Khu phố C, T, H, BT (Vắng mặt).
2. Bà Huỳnh Thị Kim N2, sinh năm 1962; HKTT: Khu phố C, T, H, BT. (Có mặt)
3. Ông Nguyễn Thanh S2, sinh năm 1973; HKTT: Thôn B, T, H, BT. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Nguyễn Thanh S và Thạch Thị C sống chung với nhau như vợ chồng tại khu phố C, T, H, tỉnh BT.
Là đối tượng nghiện ma túy, nên sáng ngày 07/01/2021, S nói với C mua 500.000₫ ma túy về cho S sử dụng. C điện thoại cho một người tên Q (Không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 500.000₫ ma túy đá. C điều khiển xe mô tô đến khu vực giáp ranh giữa Bình Thuận và Đồng Nai thì có 01 người thanh niên đến giao
2
01 đoạn ống hút bên trong chứa ma túy cho C và nhận tiền. Sau khi mua được ma túy, C đem về nhà để trên bàn trong phòng ngủ. Một lúc sau, S từ nhà sau đi lên hỏi C có ma túy chưa thì C trả lời để trên bàn. S đi vào phòng lấy ma túy đổ một ít vào bộ D sử dụng ma túy để sử dụng, phần còn lại vẫn để ở vị trí ban đầu.
Khoảng 12 giờ 53 phút cùng ngày, Nguyễn Thành N1 dùng số thuê bao 0848033538 điện thoại vào số thuê bao 0917296014 của S hỏi mua 200.000₫ ma túy đá thì S là người nghe máy và đồng ý bán ma túy cho N1. S nói với C lấy phần ma túy còn lại trong ống hút bán cho N1 với giá 200.000đ. C làm theo lời S nhưng thấy lượng ma túy còn nhiều, nên C lấy ống hút chứa ma tuý đổ vào gói nylon dùng làm vỏ bao thuốc lá rồi dùng băng keo đen dán gói nylon chứa ma tuý lại để bán cho N1, phần ma tuý còn lại trong ống hút C hàn kín và để trong túi xách màu xanh cất trong tủ quần áo để dành cho S sử dụng, S không hề biết việc này. Sau khi làm xong thì C mang ma túy đến nhà trọ của N1 tại Khu phố B, T, H giao cho N1 và lấy 200.000đ. N1 đã sử dụng hết số ma túy này. Trên đường quay về nhà, C đã dùng số tiền bán ma túy cho N1 đi chợ hết.
Lúc 14 giờ 00 phút ngày 07/01/2021, Công an huyện H phối hợp cùng Công an thị trấn T bắt quả tang Thạch Thị C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi xách màu xanh để trong tủ quần áo có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín bên trong chứa chất dạng tinh thể.
Tại Kết luận giám định số 34/KLGĐ-PC09 ngày 15/01/2021 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định:
- - Một đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, bên trong có tinh thể màu trắng được ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,4237 gam, là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm có:
- - 0,4237 gam Methamphetamine, hiện còn 0,3854 gam (Do lấy mẫu giám định) cùng 01 đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì số 34 có chữ ký của Giám định viên Đoàn T5;
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh;
- - 01 túi xách màu xanh;
- - 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Thạch Thị C;
- - 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh bị vỡ màn hình của Nguyễn Thanh S;
- - Số tiền 825.000₫.
Túi xách màu xanh, điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số tiền 825.000₫ đã được CQĐT trả lại cho bị cáo C.
Vụ thứ hai: Trong vụ thứ nhất, bị cáo S bị tạm giữ từ ngày 07/01/2021 và được trả tự do ngày 16/01/2021. Trong thời gian được tại ngoại, ngày 29/3/2023, Nguyễn Thanh S và Lâm Thanh T nhậu tại nhà của S ở khu phố C, T, H, BT. Sau khi nhậu xong, S nói với T dùng xe của T đi cầm cố để lấy 500.000₫ mua ma túy về cho cả hai cùng sử dụng thì T đồng ý. S điều khiển xe mô tô của
3
S, T điều khiển xe mô tô BKS 60AE-021.35, cả hai đi đến tiệm tạp hóa của bà Huỳnh Thị Kim N2. S dắt xe máy BKS 60AE-021.35 vào gặp bà N2 để cầm cố lấy số tiền 500.000đ. Do quen biết nên bà N2 đồng ý và giữ chiếc xe mô tô nói trên. Sau khi cầm cố, S điều khiển xe mô tô của mình chở T đến xã T gặp một người tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000đ rồi cả hai quay về nhà của S. Về đến nơi, S nói T mang bật lửa đi ra nhà bếp, biết S nói mang bật lửa để nấu ma túy sử dụng nên T làm theo, S lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của S (gồm 01 chai nhựa, trên nắp cắm ống hút nhựa và cắm ống nỏ thủy tinh được uốn cong một đầu hình cầu), S lấy một ít ma túy vừa mua đổ vào trong ống nỏ thủy tinh dùng bật lửa hơ nóng và sử dụng, phần còn lại S để trên bình gas trong nhà bếp. S sử dụng đầu tiên rồi đưa cho T sử dụng. Khi cả hai đang sử dụng thì Nguyễn Thành N1 đến nhà S chơi, N1 vừa đến thì Công an huyện H phối hợp cùng Công an thị trấn T ập vào bắt quả tang thu giữ tại phòng bếp ngay vị trí các đối tượng ngồi có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa cao 22cm có chứa nước trong suốt, nắp chai màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu tím và ống nỏ thủy tinh gắn ống hút màu xanh dài 13cm có một đầu hình cầu, bên trong đoạn hình cầu của ống thủy tinh có chứa chất dạng tinh thể màu nâu đã cô đặc; 01 chiếc bật lửa và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ; Trên bình gas màu bạc dưới kệ bếp có 01 gói nylon kích thước (04×02)cm được hàn kín bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 384/KL-KTHS ngày 05/4/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định:
- + 01 gói nylon được hàn kín kích thước (04×02)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng có ký hiệu là M1 có khối lượng 0.9952 gam là Methamphetamine.
- + 01 ống thủy tinh gắn ống hút màu xanh dài 13 cm, một đầu ống thủy tinh có hình cầu, bên trong hình cầu chứa chất rắn màu nâu có ký hiệu là M2 có khối lượng 0.1096 gam là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án gồm có:
- + 0.9223 gam Methamphetamine (Mẫu M1) còn lại sau giám định;
- + 0.0356 gam Methamphetamine (Mẫu M2) còn lại sau giám định;
- + 01 chai nhựa cao 22 cm có nắp chai màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu tím;
- + 01 chiếc bật lửa đã qua sử dụng;
- + 01 ống thủy tinh gắn ống hút màu xanh dài 13 cm, một đầu ống thủy tinh có hình cầu;
- + Số tiền 50.000đ đã trả lại cho bị cáo S.
Với nội dung như trên, Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 22/8/2024 của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố các bị cáo tội danh như sau:
4
Truy tố Nguyễn Thanh S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS; “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Truy tố bị cáo Lâm Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Truy tố bị cáo Thạch Thị C về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKSND huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Đại diện VKSND huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên Nguyễn Thanh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS; “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Tuyên bị cáo Lâm Thanh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Tuyên bị cáo Thạch Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo.
Đề nghị HĐXX:
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Khoản 1 Điều 251; Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”, từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”, từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy” và tổng hợp hình phạt theo quy định.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lâm Thanh T từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”, từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy” và tổng hợp hình phạt theo quy định.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thạch Thị C từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”; từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” và tổng hợp hình phạt theo quy định.
5
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 0.3854 gam Methamphetamine cùng 01 đoạn ống nhựa; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh; 0.9223 gam Methamphetamine (Mẫu M1); 0.0356 gam Methamphetamine (Mẫu M2); 01 chai nhựa cao 22 cm có nắp chai màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu tím; 01 chiếc bật lửa đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh gắn ống hút màu xanh dài 13 cm, một đầu ống thủy tinh có hình cầu; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh; Buộc bị cáo S và bị cáo C nộp lại 200.000đ để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
* Ý kiến của các bị cáo: Thống nhất với tội danh và điều luật mà VKSND huyện Hàm Tân viện dẫn trong Cáo trạng, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong suốt quá trình điều tra, mặc dù bị cáo C nhiều lần thay đổi lời khai, để giải thích cho việc thay đổi lời khai của mình, bị cáo trình bày rằng vì muốn nhận tội thay cho chồng mình là Nguyễn Thanh S. Tuy nhiên, tất cả các lời khai bị cáo đều khẳng định bị cáo có đi mua ma túy về tàng trữ để cho S sử dụng, và bị cáo là người giao ma túy cho N1 để lấy số tiền 200.000đ. Tại biên bản hỏi cung ngày 15/3/2024 và tại phiên tòa, bị cáo khẳng định, ngày 07/01/2021, Nguyễn Thanh S bảo bị cáo mua 500.000₫ ma túy về để cho S sử dụng, khi mua ma túy về nhà, bị cáo để đoạn ống hút chứa ma túy trên bàn. Trưa cùng ngày, S bảo bị cáo mang ống hút chứa phần ma túy còn lại đi bán cho N1 với giá 200.000đ. Do thấy còn nhiều ma túy nên bị cáo đã lấy ống hút chứa ma tuý đổ vào gói nylon dùng làm vỏ bao thuốc lá rồi dùng băng keo đen dán gói nylon chứa ma tuý lại để bán cho N1, phần ma tuý còn lại trong ống hút C hàn kín và để trong túi xách màu xanh cất trong tủ quần áo để dành cho S sử dụng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo S về việc S có nói C đi mua 500.000₫ ma túy cho mình sử dụng, S là người yêu cầu bị cáo đi giao ma túy cho N1, phù hợp với lời khai của N1 về việc C là người giao ma túy cho N1, về số tiền 200.000₫ bao gồm hai tờ tiền, mỗi tờ mệnh giá là 100.000₫ mà N1 giao cho C; phù hợp với số ma túy thu giữ được trong túi xách màu xanh ở nhà bị cáo C vào ngày 07/01/2021. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo C đã có hành vi bán cho N1 200.000₫ ma túy đá, đồng thời, có hành vi tàng trữ ma túy để cho Nguyễn Thanh S sử dụng.
6
[3] Đối với bị cáo S, trong vụ thứ nhất, trong quá trình điều tra ban đầu bị cáo khai nhận ngày 07/01/2021, mình có bảo C mua 500.000₫ ma túy về để cho bị cáo sử dụng. Cùng ngày, N1 gọi điện thoại đến số điện thoại của S là 0917.296.xxx hỏi mua ma túy, C là người nghe máy, sau đó C báo lại với S về việc N1 hỏi mua ma túy. S lấy gói ma túy đổ một ít vào trong nỏ, còn lại để trong túi nylon, dùng lửa hàn kín miệng và đưa cho C mang đi bán cho N1 tại nhà trọ sau lưng chợ T6. Sau đó, bị cáo S thay đổi lời khai, cho rằng mình chỉ bảo C đi mua ma túy về cho mình sử dụng nhưng không nói rõ là mua bao nhiêu, khi C mua về thì C là người đổ ma túy vào sẵn trong nỏ, S chỉ sử dụng, không rõ số ma túy còn hay hết. Không biết việc mua bán ma túy giữa C và N1. Tại biên bản hỏi cung ngày 28/5/2024 và tại phiên tòa, bị cáo S xác định mình có bảo C đi mua 500.000₫ ma túy về cho S sử dụng, S là người đổ ma túy vào nỏ. Khi N1 gọi điện thoại đến mua ma túy, S là người nghe máy và yêu cầu C mang phần ma túy còn lại trong ống hút đi giao cho N1 để lấy 200.000đ. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo C và lời khai của N1, đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Từ thời điểm bắt quả tang cho đến 09 giờ 00 phút ngày 08/01/2021 bị cáo S và C không được gặp nhau. Thế nhưng, tại biên bản kiểm tra điện thoại vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 08/01/2021, S thừa nhận rằng “Các cuộc gọi từ số thuê bao 0848033538 là do N1 gọi đến số thuê bao của tôi để hỏi mua ma túy”. S cũng thừa nhận rằng, số điện thoại 0917.296.xxx do bị cáo S sử dụng chính. Hơn nữa, trong điện thoại của S không lưu số điện thoại của N1. Do đó, nếu S không nghe điện thoại từ N1 thì sẽ không biết chính xác số điện thoại đó là của ai, và gọi đến nhằm mục đích gì. Như vậy, có căn cứ để xác định rằng S là người nghe điện thoại khi N1 liên hệ mua ma túy vào ngày 07/01/2021; Nguyễn Thành Nghĩa là người mua ma túy cũng trình bày rằng, khi gọi đến thì S là người nghe máy và có hẹn “chút mang qua”. Mặc dù tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày 02/02/2023, bị cáo S không thừa nhận hành vi phạm tội và cho rằng bị truy tố, xét xử oan. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được phân tích ở trên. Có đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi cùng với bị cáo C bán ma túy cho N1 với số tiền 200.000đ.
[4] Tại Kết luận giám định số 34/KLGĐ-PC09 ngày 15/01/2021 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định: Một đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín, bên trong có tinh thể màu trắng được ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,4237 gam, là Methamphetamine.
[5] Bị cáo C là người đi mua ma túy theo yêu cầu của S, tàng trữ 0,4237 gam Methamphetamine để cho S sử dụng, đồng thời là người đóng gói ma túy và đi giao cho N1 với giá 200.000đ. Bị cáo S là người yêu cầu C đi mua 500.000₫ ma túy, nhận điện thoại, thỏa thuận việc mua bán ma túy với N1 và yêu cầu C đi giao ma túy cho N1. Hành vi của các bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ quản lý của Nhà nước về chất Ma túy. Các bị cáo C, S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như
7
vậy, hành vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Hành vi của bị cáo C đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
[6] Ngày 29/3/2023, bị cáo S và bị cáo T đã có hành vi dùng xe máy bị cáo T đang sử dụng đi cầm cố để lấy tiền mua ma túy. Cả hai thống nhất giá cầm cố là 500.000đ. S là người trực tiếp cầm cố xe máy và chở T cùng đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, cả hai về nhà bị cáo S tổ chức sử dụng, lượng ma túy còn lại cất giấu ở bình gas trong nhà bếp của S được dùng để cả hai sử dụng cho đến hết. Khi S và T đang sử dụng thì bị bắt quả tang và thu giữ lượng ma túy trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy và lượng ma túy còn lại cất giấu tại bình gas.
[7] Tại Kết luận giám định số 384/KL-KTHS ngày 05/4/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B xác định: 01 gói nylon được hàn kín kích thước (04×02)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng có ký hiệu là M1 có khối lượng 0.9952 gam là Methamphetamine; 01 ống thủy tinh gắn ống hút màu xanh dài 13 cm, một đầu ống thủy tinh có hình cầu, bên trong hình cầu chứa chất rắn màu nâu có ký hiệu là M2 có khối lượng 0.1096 gam là Methamphetamine.
[8] Bị cáo T là người cung cấp tài sản để cầm cố, cùng mang xe đi cầm cố, cùng thống nhất giá cầm cố là 500.000đ để mua ma túy, là người cung cấp bật lửa để sử dụng ma túy. Bị cáo S là người đề xuất, mang xe đi cầm cố, trực tiếp mua ma túy, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đổ ma túy vào nỏ để cả hai cùng sử dụng. Lượng ma túy 0.9952 gam Methamphetamine còn lại được cất giấu ở bình gas để cả hai cùng sử dụng cho đến hết. Hành vi của các bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ quản lý của Nhà nước về chất Ma túy. Các bị cáo T, S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
[9] Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; truy tố bị cáo Lâm Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; truy tố bị cáo Thạch Thị C về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
8
[10] Đây là các vụ án có đồng phạm giản đơn. Đối với vụ án ngày 07/01/2021, bị cáo S là người khởi xướng và là người thực hành, bị cáo C là người thực hành. Đối với vụ án ngày 29/3/2023, bị cáo S là người khởi xướng và là người thực hành, bị cáo T là người thực hành.
[11] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo biết rõ ma tuý là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ điều này, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần phải dành cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với các bị cáo cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong các vụ án, bị cáo S đều tham gia với vai trò chính, và đang trong quá trình điều tra lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác.
[12] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[13] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo C có thai, đến năm 2022 và 2023 bị cáo hai lần sinh con. Như vậy, bị cáo C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ người phạm tội là phụ nữ có thai tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[14] Đối với lượng ma túy bị cáo C tàng trữ vào ngày 07/01/2021, quá trình điều tra xác định S yêu cầu bị cáo C mang hết lượng ma tuý còn lại đi bán cho N1, nhưng C tự ý giữ lại một ít cho S sử dụng. Việc tàng trữ là hành động và ý thức chủ quan của riêng bị cáo C, bị cáo S không tham gia và không biết việc tàng trữ. Do đó, không xem xét xử lý đối với bị cáo S liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất Ma túy của bị cáo C là phù hợp.
[15] Đối với lượng ma túy 0.1096 gam Methamphetamine thu được trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào ngày 29/3/2023. Số ma túy này đã được đốt chuyển sang màu nâu và khi các bị cáo đang sử dụng thì bị bắt. Do đó, không xác định lượng ma túy này làm định lượng truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp.
[16] Ngày 29/3/2023, khi S và T đang sử dụng ma túy, N1 đến chơi mà không có việc rủ rê từ trước, chỉ có S và T cùng sử dụng ma tuý, N1 không tham gia. Do đó, không xem xét xử lý đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với 02 người trở lên là phù hợp. Khi các bị cáo sử dụng ma túy tại nhà của S và C, C không có mặt tại nhà và không biết việc các bị cáo sử dụng ma túy nên không xem xét xử lý đối với C là phù hợp.
[17] Vào ngày 07/01/2021, Thạch Q1 trình bày mình cùng sử dụng ma túy với bị cáo S. Quá trình điều tra bị cáo S trình bày mình sử dụng ma túy xong còn dư trong nỏ để trong phòng ngủ, sau đó có thấy Q1 từ trong phòng ngủ đi ra
9
nên đoán là Q1 có sử dụng ma tuý, bị cáo không cung cấp ma tuý cho Q1 sử dụng. Hiện nay Q1 bỏ đi khỏi địa phương, không rõ sinh sống tại đâu nên không thể làm rõ vấn đề trên. Ngoài lời khai của S, không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh có việc S cung cấp ma túy cho Q1 sử dụng hay không. Do đó, không xem xét xử lý hành vi của S trong vụ án này là phù hợp. Tuy nhiên, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ hành vi của S vào ngày 07/01/2021 có cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hay cấu thành tội phạm khác hay không để xử lý theo thẩm quyền.
[18] Đối với đối tượng tên Q là người bán ma túy cho Thạch Thị C, đối tượng tên T3 là người bán ma túy cho S. Hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.
[19] Đối với số tiền cấm cố xe mô tô BKS 60AE-021.35, trong quá trình điều tra bà Huỳnh Thị Kim N2 yêu cầu hoàn trả lại số tiền cầm cố. Tại phiên tòa, mặc dù đã được giải thích quyền yêu cầu hoàn trả số tiền nêu trên, nhưng bà N2 xác định mình không yêu cầu các bị cáo phải hoàn lại số tiền 500.000đ. Các bị cáo thống nhất. Đây là quyền tự định đoạt tài sản của bà N2 nên HĐXX không xem xét.
[20] Về vật chứng vụ án:
- - Đối với 0.3854 gam Methamphetamine (Mẫu M); 0.9223 gam Methamphetamine (Mẫu M1); 0.0356 gam Methamphetamine (Mẫu M) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 chai nhựa cao 22 cm có nắp chai màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu tím; 01 chiếc bật lửa đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh gắn ống hút màu xanh dài 13 cm, một đầu ống thủy tinh có hình cầu, 01 gói nylon. Đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh, đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với xe mô tô BKS 60AE-021.35, đây là xe thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Thanh S2 cho bị cáo mượn để sử dụng. Việc bị cáo T và bị cáo S mang đi cầm cố để mua ma túy sử dụng ông S2 không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại xe máy cho ông S2 là phù hợp.
- - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ, đây là tiền của S không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại cho bị cáo S là phù hợp.
- [21] Bị cáo C và S bán ma túy cho N1, thu lợi bất chính số tiền 200.000đ nên cần buộc các bị cáo phải nộp lại để sung vào ngân sách.
10
[22] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy”.
Bị cáo Lâm Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy”.
Bị cáo Thạch Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất Ma túy”.
1.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 255, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”; 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”, 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy”. Tổng hợp hình phạt của ba tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/3/2023, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/01/2021 đến ngày 16/01/2021.
1.2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Thanh T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”; 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất Ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/3/2023.
1.3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Thạch Thị C 02 (Hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/01/2021 đến ngày 16/01/2021.
2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh S và Thạch Thị C phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 200.000đ để sung vào ngân sách nhà nước.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
11
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0.3854 gam Methamphetamine cùng 01 đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì số 34 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 0.9223 gam Methamphetamine cùng 01 gói nylon được hàn kín, kích thước (04×02)cm đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong túi giấy dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 384/1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B; 0.0356 gam Methamphetamine cùng 01 ống thủy tinh gắn ống hút màu xanh dài 13 cm, một đầu ống thủy tinh có hình cầu được niêm phong trong túi nylon dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 384/2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh; 01 chai nhựa cao 22 cm có nắp chai màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu tím; 01 chiếc bật lửa đã qua sử dụng
Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh.
Tất cả Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thanh S, Thạch Thị C, Lâm Thanh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Trang |
12
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN về hình sự
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo S, C, T bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
