Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 13/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Khánh Long.

Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Gia An, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phan Hồng Huyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 26/8/2024 đối với bị cáo:

Trần D, sinh ngày 01/01/1987, tại V, Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 03/12; con ông Trần M và bà Tăng Thị S; bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án, Tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/5/2024 đến nay (bị cáo có mặt).Người bào chữa cho bị cáo Trần D: Ông Nguyễn Văn Đ – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; (có mặt).Bị hại: Sơn Dêng, sinh ngày 15/12/1988. Nơi cư trú: ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Huỳnh Minh Đ1, sinh năm 1985; (vắng mặt).
  2. Trần Văn T, sinh năm 1965; (có mặt).
  3. Huỳnh Thị S1, sinh năm 1977; (vắng mặt).
  4. Huỳnh Phúc H, sinh năm 1978; (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Triệu L, cán bộ hưu trí; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, trong lúc nhậu chung với nhau thì bị cáo Trần D với bị hại S2 Dêng xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau. Bị cáo Trần D dùng cây kéo đâm nhiều cái trúng vào vùng cổ, lưng phải và cột sống thắt lưng của bị hại Sơn D1 gây thương tích. Sau khi dùng cây kéo đâm bị hại S2 Dêng xong bị cáo Trần D đi về nhà, còn bị hại S2 Dêng được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Sau khi điều trị thương tích, bị hại Sơn D1 làm đơn yêu cầu xử lý truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần D về hành vi cố ý gây thương tích.

- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 135/KLTTCT-TTPYST ngày 28/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh S kết luận thương tích của bị hại S: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19%. Tổn thương do vật sắc – nhọn gây nên.

- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 134/KLTTCT-TTPYST ngày 28/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh S kết luận thương tích của Trần D: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%. Tổn thương do vật tày gây nên.

- Tại cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo Trần D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Tại bản Cáo trạng số: 63/CT-VKS-VC ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo Trần D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Bị cáo Trần D do xuất phát từ mâu thuẫn trong lúc nhậu chung với nhau, bị cáo Trần D dùng cây kéo đâm nhiều cái trúng vào cơ thể của bị hại Sơn D1 dẫn đến gây thương tích tỷ lệ 19%. Do đó, hành vi của bị cáo Trần D dùng cây kéo gây thương tích cho bị hại S2 Dêng là loại hung khí nguy hiểm và đây là tình tiết định khung hình phạt. Xét thấy, hành vi của bị cáo Trần D có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần D. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố: Bị cáo Trần D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

+ Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Trần D mức án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần D với bị hại Sơn D1. Bị cáo Trần D đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại Sơn D1 với số tiền là 21.913.000 đồng. Bị cáo Trần D đã bồi thường cho bị hại Sơn D1 số tiền là 1.000.000 đồng, bị cáo Trần D còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Sơn D1 số tiền là 20.913.000 đồng.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại chiều dài 23cm, cán vỏ nhựa màu đen, mũi nhọn.

Theo Phiếu nhập kho số: NK71 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

- Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Trần D trình bày ý kiến:

Thống nhất với Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần D. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xử phạt bị cáo Trần D mức án thấp nhất theo đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát. Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị miễn cho bị cáo Trần D theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa bị cáo Trần D trình bày và nói lời sau cùng: Bị cáo Trần D thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, ý kiến luận tội của vị Kiểm sát viên. Bị cáo Trần D xin giảm nhẹ hình phạt; Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần D đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu bị hại Sơn D1 với số tiền là 21.913.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị hại Sơn D1 trình bày: Thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã nêu và ý kiến đề nghị của vị Kiểm sát viên, lời nhận tội của bị cáo Trần D. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Sơn D1 yêu cầu bị cáo Trần D bồi thường các khoản chi phí với tổng số tiền là 21.913.000 đồng, bị cáo Trần D đã bồi thường trước số tiền 1.000.000 đồng; Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo Trần D theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa, người làm chứng Trần Văn T trình bày: Vào buổi tối ngày 17/02/2024 bị hại Sơn D1 đang đứng trước nhà của ông Trần Văn T thì thấy bị cáo Trần D cầm cây kéo dâm bị hại Sơn D1 từ phía sau dẫn đến gây thương tích.

- Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V những người làm chứng gồm Huỳnh Phúc H, Huỳnh Thị S1 và Huỳnh Minh Đ1 trình bày: Việc bị cáo Trần D dùng cây kéo đâm bị hại Sơn D1 gây thương tích cụ thể như thế nào thì không có trực tiếp thấy, mà chỉ nghe nói lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 91, 92, 98, 100, 102, 104, 105, 106, 108 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa: Người làm chứng gồm: Huỳnh Minh Đ1, Huỳnh Thị S1 và Huỳnh Phúc H đều vắng mặt. Nhận thấy, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Xét thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định của pháp luật.

[4] Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa đã chứng minh được hành vi phạm tội của bị cáo Trần D: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/02/2024 bị cáo Trần D dùng cây kéo đâm nhiều cái trúng vào cơ thể của bị hại Sơn D1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 19% là phù hợp với Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 135/KLTTCT-TTPYST ngày 28/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh S cũng như giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa tỉnh S cung cấp có trong hồ sơ vụ án.

[5] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần D, bị hại Sơn D1 và người làm chứng đều khẳng định thương tích của bị hại Sơn D1 là do bị cáo Trần D đã dùng cây kéo đâm nhiều cái trúng vào cơ thể của bị hại Sơn D1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19% như đã nêu trên. Do bị cáo Trần D sử dụng cây kéo sắc nhọn gây thương tích cho bị hại Sơn D1 là loại hung khí nguy hiểm. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Trần D phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và gây hậu quả thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[6] Do có hành vi phạm tội nêu trên, xét thấy Cáo trạng số: 63/CT-VKSVC ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo Trần D phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Động cơ phạm tội của bị cáo Trần D, chỉ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống và thiếu sự kiềm chế, bị cáo Trần D đã dùng cây kéo sắc nhọn đâm nhiều cái trúng vào cơ thể của bị hại Sơn D1 dẫn đến gây thương tích như đã nêu trên.

[8] Xét thấy, hành vi của bị cáo Trần D là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo Trần D không những xâm phạm đến sức khỏe của bị hại Sơn Dêng mà còn gây tổn hại về tinh thần cho bị hại và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này, cũng như phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo Trần D có thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Trần D đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Sơn D1 số tiền là 1.000.000 đồng. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, người dân tộc Khmer và có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[11] Xét thấy, bị cáo Trần D có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố là phù hợp với quy định của pháp luật và đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo Trần D để trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần D với bị hại S: Bị cáo Trần D có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại các khoản chi phí hợp lý cho bị hại Sơn D1 với số tiền là 21.913.000 đồng. Khấu trừ số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo Trần D đã bồi thường trước, bị cáo Trần D còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 20.913.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm mười ba nghìn đồng).

[13] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo bằng kim loại chiều dài 23cm, cán vỏ nhựa màu đen, mũi nhọn.

Theo Phiếu nhập kho số: NK71 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

[14] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần D được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[15] Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Trần D, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[16] Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Trần D thống nhất về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ và xin miễn án phí cho bị cáo Trần D là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[17] Đối với thương tích của bị cáo Trần D 01%, bị cáo Trần D không yêu cầu xử lý và cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần D, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 ; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Trần D: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 357, 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần D với bị hại S: Bị cáo Trần D có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại các khoản chi phí hợp lý cho bị hại Sơn D1 với số tiền là 21.913.000 đồng. Khấu trừ số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo Trần D đã bồi thường trước, bị cáo Trần D còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 20.913.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm mười ba nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại Sơn D1 có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Trần D còn phải trả lãi cho bị hại S2 Dêng theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo bằng kim loại chiều dài 23cm, cán vỏ nhựa màu đen, mũi nhọn.

Theo Phiếu nhập kho số: NK71 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần D được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Cơ quan THAHS CA thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - CQĐT CA thị xã Vĩnh Châu;
  • - Đội tổng hợp CA TX Vĩnh Châu;
  • - Sở TP tỉnh Sóc Trăng;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người bào chữa;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ST;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS Diêl - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger