Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tấn Ảnh và ông Ngô Bá Dũng.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  • - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tú N, sinh năm:1979; Địa chỉ: G D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm:1980; Địa chỉ: K Hải Phòng, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam B; Địa chỉ: B, xã B, thị Xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Tú N trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tú N và ông Đỗ Văn H đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại K Hải Phòng, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H ham mê số đề, cá độ bóng đá nhiều lần gây nợ nần. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng trầm trọng. Từ năm 2022, ông H bị xử phạt tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và đi chấp hành án tại Trại giam B. Đến nay, bà N xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, bà không còn tình cảm vợ chồng với ông H, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà mong muốn Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

  • - Về con chung: Bà N và ông H có 03 con chung là Đỗ Trần Thanh N1 sinh ngày 07/9/2002, Đỗ Ý Lam V sinh ngày 31/01/2009 và Đỗ Trần Ngọc K sinh ngày 26/6/2019. Ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi con chung Đỗ Ý Lam V và Đỗ Trần Ngọc K. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Đỗ Trần Thanh N1 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
  • - Về tài sản chung: Bà N xác định bà và ông H không có tài sản chung.
  • - Về nợ chung: Bà N xác định bà và ông H không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Đỗ Văn H đang chấp hành án tại Trại giam B, đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án. Ông H gửi bản tự khai, trình bày đồng ý ly hôn với bà N, đồng ý giao các con chung cho bà N nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con và xác định ông bà không có tài sản chung, nợ chung.

Kết quả xác minh tại tổ dân phố nơi ông H và bà N từng sống chung xác định, ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại K Hải Phòng, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng và có cư trú thực tế tại địa chỉ trên. Tuy nhiên, đến năm 2022, ông H bị bắt về tội liên quan đến ma túy và đi chấp hành án tại Trại giam B. Về tình trạng và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng thì tổ dân phố không nắm rõ.

Kết quả lấy lời khai con chung xác định, cháu Đỗ Ý Lam V đang sống cùng bà N và có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn và nuôi con là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Tú N đối với ông Đỗ Văn H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị Tú N đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3] Xét yêu cầu của bà N thì thấy: Quá trình chung sống, giữa ông H và bà N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống không phù hợp. Từ năm 2022, ông H đi chấp hành án tại Trại giam B. Mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục và ngày càng trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, ông H có bản tự khai trình bày đồng ý ly hôn với bà N. Mặc dù Tòa án đã phân tích pháp lý và tình cảm cho bà N nhưng bà vẫn kiên quyết xin ly hôn, xác định không còn tình cảm, không thể sống chung với ông H. Xét thấy tình cảm vợ chồng cần phải vun đắp từ hai phía mới đảm bảo cuộc sống chung hạnh phúc, nhưng tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông H đã mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Ông H và bà N có 03 con chung là Đỗ Trần Thanh N1 sinh ngày 07/9/2002, Đỗ Ý Lam V sinh ngày 31/01/2009 và Đỗ Trần Ngọc K sinh ngày 26/6/2019. Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Ý Lam V và Đỗ Trần Ngọc K. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy, ông H hiện đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Quá trình lấy lời khai của cháu V, cháu trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Do đó, cần giao cháu V và cháu K cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết. Đối với con chung Đỗ Trần Thanh N1 đã thành niên nên không đề cập giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng.

[5] Về tài sản chung: Bà N và ông H xác định không có tài sản chung, nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về nợ chung: Bà N và ông H xác định không có nợ chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị Tú N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tú N về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với ông Đỗ Văn H.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Tú N được ly hôn với ông Đỗ Văn H.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Đỗ Ý Lam V sinh ngày 31/01/2009 và Đỗ Trần Ngọc K sinh ngày 26/6/2019 cho bà Trần Thị Tú N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Trần Thị Tú N phải chịu; được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí HNGĐ bà N đã nộp theo biên lai thu số 0000196 ngày 22/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  2. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - UBND phường Thạch Thang (Số đk 71, ngày 21/5/2002);
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tú N về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với ông Đỗ Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger