TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ST TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 28-8-2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ST, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thanh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phước.
Ông Phạm Hữu Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý, thư ký Tòa án nhân dân thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ST tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 239/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 440/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phú K, sinh năm 19XX.
Địa chỉ: Ấp A, xã A1, huyện A2, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Bà Lâm Thị L, sinh năm 19XX.
Địa chỉ: Số A, đường A1, khóm A2, phường A3, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Phú K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/3/2020 tại Uỷ ban nhân dân phường B, thành phố ST. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến ngày 14/9/2023 thì bà L bỏ về nhà mẹ ruột tại số A, đường A1, khóm A2, phường A3, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng. Mặc dù ông bà đã nhiều lần trao đổi với nhau để khắc phục nhưng đến nay cuộc sống hôn nhân đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa ông bà không có tiếng nói chung. Từ đó nhận thấy rằng không thể chung sống với nhau được nữa. Do đó ông K yêu cầu Toà án giải quyết cho ông K được ly hôn với bà Lâm Thị L.
- Về con chung: Ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L trong thời gian chung sống có hai người con chung là cháu Nguyễn Phú V (nam, sinh ngày 13/12/20XX) và Nguyễn Phú T (nam, sinh ngày 07/6/20XX). Hiện nay cháu Nguyễn Phú V đang sống với cha là ông Nguyễn Phú K tại địa chỉ Ấp A, xã A1, huyện A2, tỉnh Sóc Trăng; Cháu Nguyễn Phú T thì đang sống chung với mẹ là bà Lâm Thị L tại số A, đường A1, khóm A2, phường A3, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn ông K yêu cầu: Đối với cháu Nguyễn Phú V (nam, sinh ngày 13/12/20XX) sẽ do ông K được chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi cháu V; Đối với cháu Nguyễn Phú T (nam, sinh ngày 07/6/20XX) thì ông K đồng ý giao cho bà L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ tuổi trưởng thành, ông K không cấp dưỡng cho cháu T.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Phú K tự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tại đơn yêu cầu đề ngày 09/8/2024, bị đơn bà Lâm Thị L trình bày:
Bà L có nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Toà án nhân dân thành phố ST về việc ông Nguyễn Phú K khởi kiện xin ly hôn với bà L.
Do bà L đi làm xa Công ty không cho nghỉ nên bà L không thể tham dự các buổi mà Toà án mời. Bà L làm đơn này xin được vắng mặt tất cả các buổi hoà giải, xét xử. Bà L thống nhất theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Phú K.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà L thống nhất với ông K về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn. Nay bà L đồng ý ly hôn với ông K.
- Về con chung: Bà L thống nhất với ông K trong thời gian chung sống có hai người con chung là cháu Nguyễn Phú V (nam, sinh ngày 13/12/20XX) và Nguyễn Phú T (nam, sinh ngày 07/6/20XX). Hiện nay cháu Nguyễn Phú V đang sống với cha là ông Nguyễn Phú K tại địa chỉ Ấp A, xã A1, huyện A2, tỉnh Sóc Trăng; cháu Nguyễn Phú T thì đang sống chung với mẹ là bà Lâm Thị L tại số A, đường A1, khóm A2, phường A3, thành phô ST, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn: Đối với cháu Nguyễn Phú V (nam, sinh ngày 13/12/20XX) sẽ do ông K được chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ tuổi trưởng thành, bà L không cấp dưỡng nuôi cháu V; Đối với cháu Nguyễn Phú T (nam, sinh ngày 07/6/20XX sẽ do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ tuổi trưởng thành, ông K không cấp dưỡng cho cháu T.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Ý kiến của kiểm sát viên: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn. Về nội dung đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Theo đơn khởi kiện, ông Nguyễn Phú K yêu cầu ly hôn với bà Lâm Thị L có địa chỉ tại thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu được nuôi con. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình, quan hệ pháp luật để giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố ST theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên Tòa hôm nay, ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L đã được Toà án tống đạt hợp lệ các quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự thủ tục tố tụng nhưng ông K và bà L có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống do ông, bà không hợp nhau về tính tình, thường hay phát sinh nhiều mâu thuẫn, cải vã, không có sự đồng cảm với nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn tôn trọng nhau và cũng không hòa giải được nữa, ông K và bà L đã chính thức bỏ nhau và sống ly thân, ông K và bà L cũng thống nhất ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông, bà không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông K cho ông K được ly hôn với bà L.
[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L có hai người con chung là cháu Nguyễn Phú V (nam, sinh ngày 13/12/20XX) và Nguyễn Phú T (nam, sinh ngày 07/6/20XX). Hiện nay cháu Nguyễn Phú V đang sống với cha là ông Nguyễn Phú K tại địa chỉ Ấp A, xã A1, huyện A2, tỉnh Sóc Trăng; cháu Nguyễn Phú T thì đang sống chung với mẹ là bà Lâm Thị L tại số A, đường A1, khóm A2, phường A3, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.
Sau khi ly hôn ông K và bà L thống nhất: Đối với cháu Nguyễn Phú V (nam, sinh ngày 13/12/20XX) sẽ do ông K được chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ tuổi trưởng thành, bà L không cấp dưỡng nuôi cháu V; Đối với cháu Nguyễn Phú T (nam, sinh ngày 07/6/20XX) sẽ do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ tuổi trưởng thành, ông K không cấp dưỡng cho cháu T.
Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi ông K và bà L sống ly thân đến nay cháu Nguyễn Phú V sống với cha và cháu Nguyễn Phú T thì sống chung với mẹ, cuộc sống của hai cháu đang ổn định và hiện nay phát triển bình thường. Do đó nhằm để ổn định cuộc sống, việc học tập cũng như tâm lý của hai cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần tiếp tục giao cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng cháu V cho đến tuổi trưởng thành; tiếp tục giao cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T cho đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L tự trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L tự trình bày không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Phú K phải chịu án phí ly hôn số tiền là 300.000 đồng.
[4] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ những phân tích, nhận định trên nên đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Phú K với bà Lâm Thị L.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phú V (giới tính nam, sinh ngày 13/12/20XX) cho ông Nguyễn Phú K chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi; Giao cháu Nguyễn Phú T (giới tính nam, sinh ngày 07/6/20XX) cho bà Lâm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi;
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Phú K và bà Lâm Thị L không cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Phú K với bà Lâm Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục hai con chung mà không ai được cản trở theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Ông Nguyễn Phú K với bà Lâm Thị L trình bày trong thời gian chung sống ông bà không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Ông Nguyễn Phú K với bà Lâm Thị L trình bày ông bà không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Ông Nguyễn Phú K phải chịu án phí dân sự số tiền 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Phú K đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001264 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Thanh Loan |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ST, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ST, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN PHU KHANH - LAM THI LAN
