|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 09-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hoan
Ông Mạc Văn Mùa
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang H - Kiểm sát viên.
Ngày 09/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; Toà án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện T, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 28/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 29/7/2024, đối với bị cáo:
- NGUYỄN VĂN P, sinh năm 1992 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Phạm Thị N; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 54/2024/HS-PT ngày 16/5/2024 của TAND tỉnh Hải Dương đình chỉ vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06 ngày 26/3/2019, TAND huyện Thanh Hà trong thời 18 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/5/2024 đến ngày 21/5/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Trần Văn H2. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Dương Ngọc T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P và Trần Văn H2 có quan hệ quen biết ngoài xã hội. Khoảng 18 giờ ngày 18/5/2024, H2 đến nhà P. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, P đi lấy ma tuý đá và bộ dụng sử dụng ma tuý để xuống nền nhà bếp ăn vị trí P, H2 ngồi. Phố lấy ma tuý ( theo như P khai nguồn gốc của người tên là T1 cho) cho hết vào trong bầu cóong (theo như bị cáo khai của người tên là T2 cho), dùng bật lửa châm lửa, P rủ H2 cùng sử dụng ma tuý, Hiệp đồng Ý. H2 sử dụng 2 lần. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi H2, P đang sử dụng ma tuý thị bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 01 chai nước bằng nhựa, 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 02 x02cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ.
Tại Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 21/05/2024 của phòng K, Công an tỉnh H, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng và bên trong cóong thuỷ tinh được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Trần Văn H2, Nguyễn Văn P dương tính Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSHD-TH ngày 27/06/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn P về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo P phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Xử phạt P từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu, tiêu hủy vật chứng được hoàn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo P có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 30 phút đến 20 giờ 40 phút, ngày 18/5/2024, tại nơi ở của gia đình Phố thuộc địa phận thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, P đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, ma tuý, công cụ và cùng với anh H2 sử dụng trái phép chất ma tuý.
Xét bị cáo P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chuẩn bị địa điểm, ma tuý, công cụ để cùng với anh H2 sử dụng trái phép ma tuý là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hành vi của P đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của BLHS. Như vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với P là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Bị cáo P là người nhân thân xấu. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không đáng kể; địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là tài sản của gia đình của bị cáo. Vì vậy, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng là 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 cóong thuỷ tinh, vỏ phong bì và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được hoàn lại sau giám định. Xét đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, vật không có giá trị, nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6]. Về án phí: Bị cáo P bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, như theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7]. Về các vấn đề khác:
[7.1]. Đối với anh H2 là người sử dụng ma tuý tại nơi ở của gia đình bị cáo P, tuy nhiên quá trình sử dụng trái phép chất ma tuý, anh H2 không được bàn bạc, không chuẩn bị công cụ, dụng cụ, không giúp P trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất tuý. Do vậy, không có căn cứ để xử lý anh H2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
[7.2]. Về hành vi sử dụng trái phép chất tuý của P, anh H2, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đã ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật. Đối với người đàn ông bị cáo khai tên là T1, ở xã T cho bị cáo ma tuý, người đàn ông tên T2 ở xã T cho bị cáo bộ D sử dụng ma tuý, do không xác định được tên tuổi địa chỉ. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. đối với bị cáo Nguyễn Văn P
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 25 (hai mươi lăm) tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/05/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong (Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- - VKSND huyện Thanh Hà;
- - VKSND tỉnh Hải Dương;
- - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
- - Cơ quan CSĐT-Công an huyện Thanh Hà;
- - Cơ quan THAHS - Công an tỉnh Hải Dương;
- - Công an huyện Thanh Hà;
- - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
- - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án & bộ phận lưu trữ.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
