TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 18 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo, bà Trần Thị Ánh Hằng.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Hồ Thị L, sinh năm 1981; nơi sinh: thành phố B, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Hồ Văn V và bà Trương Thị H; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Trần Tấn P, sinh năm 1997; nơi sinh: thành phố B, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; con ông Trần Văn P1 và Hồ Thị P2; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/10/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo P: Luật sư Lê Hùng T, Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số C, Huỳnh Thúc K, khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ B, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Bà Trương Thị H, sinh năm 1958, nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- - Bà Hồ Thị P2, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960 (vắng mặt); Nguyễn Thị Lan C, sinh năm 1972 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N và Hồ Thị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn nên Ngồi và L không sống chung với nhau. Đến tháng 04/2022, N và L hàn gắn lại tình cảm và thuê phòng trọ số 01 nhà trọ “Mỹ Chi” thuộc tổ B, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang để sống chung với nhau.
Khoảng đầu tháng 06/2022, N vay của bà Trương Thị H (mẹ ruột L) số tiền 70.000.000 đồng. Đến giữa tháng 09/2022, N và L lại xảy ra mâu thuẫn với nhau nên L bỏ về nhà bà H tại tổ A, ấp D, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre sinh sống.
Đến cuối tháng 9/2022, N đến gặp bà H hẹn đến ngày 08/10/2022 sẽ trả trước cho bà H 35.000.000 đồng, còn lại 35.000.000 đồng đến Tết Nguyên đán năm 2023 sẽ trả đủ. Đến ngày 08/10/2022, do không thấy N đến trả tiền nên Hồ Thị P2 (chị ruột L), Trần Tấn P (con ruột P2) và C1 (không rõ họ tên là bạn của P2) thuê xe ô tô đến thành phố C để viếng Miếu B Xứ N, nên Hồ Thị L đi theo tìm N để đòi tiền.
Đến khoảng 19 giờ ngày 10/10/2022, L, P2, P và C1 đến nhà trọ “Mỹ Chỉ” thì gặp Nguyễn Văn H1 chủ nhà trọ, L hỏi H1 thì biết được N vẫn còn thuê phòng trọ số 01 của nhà trọ “Mỹ Chỉ”, L dùng chìa khóa (còn giữ khi sống chung với N), mở cửa rào và cửa phòng đi vào bên trong phòng, P đi theo sau, P2 và C1 đứng bên ngoài. L đi vào phòng kéo niệm ngủ lên lấy 26.500.000 đồng cất vào túi quần. Thấy trong phòng còn có 01 xe mô tô loại Sh Mode, biển số 71B4 – 579.07 và 01 xe mô tô, loại Cub 50, biển số 71FD – 1435 có gắn sẵn chìa khóa nên L nói với P “Chỉ có lấy 02 xe mô tô thì N mới trả tiền” P đồng ý, L lấy xe Sh Mode, biển số 71B4 – 579.07 dẫn ra ngoài trước, P lấy xe Cub 50, biển số 71FD – 1435 đi sau. Sau đó L và P điều khiển xe chạy đến trạm xe H2 tại thành phố C để gửi 02 xe mô tô trên về thành phố B. Tiếp tục, L quay lại nhà trọ Mỹ C2 lấy đồ dùng cá nhân của L thì gặp N, L nói cho N biết L đã lấy tiền và 02 xe mô tô của N, N muốn lấy lại tài sản thì đến nhà bà H trả đủ tiền đã vay, nói xong L, P, P2, C1 lên xe ô tô đi về.
Từ ngày 11/10/2022 đến ngày 17/10/2022, N nhiều lần đến nhà bà H gặp L và H và đã trả đủ số tiền 70.000.000 đồng đã vay. Yêu cầu L trả 02 xe mô tô nhưng L không đồng ý. L yêu cầu N đưa thêm 50.000.000 đồng thì L mới trả xe.
Ngày 24/10/2022, N đem 40.000.000 đồng đến nhà L, thì L nói dối đã đem xe Sh Mode, biển số 71B4 – 579.07 đi cầm với số tiền 50.000.000 đồng, yêu cầu N phải đưa đủ 50.000.000 đồng để L đi chuộc xe, Ngồi năn nỉ thì L đồng ý nhận 40.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L nói dối là chủ cầm xe đã đi đám không chuộc xe lại được. Ngồi yêu cầu L trả lại 40.000.000 đồng, nhưng L không trả. Ngày 30/10/2022, N đến Công an phường V trình báo vụ việc trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, màu sơn đỏ đen, số khung: RLHJK0117MZ004702, số máy: JK01E0132659, biển số: 71B4 – 579.07, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 71010696 (đã trả lại cho Nguyễn Văn N);
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu xanh, số khung: 8060721, số máy: 8061150, biển số 71FD - 1435, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số A0042168, tên chủ xe Lê Văn T1, biển số 71FD - 1435; 01 ổ khóa hiệu HENGCHAN, sơn màu vàng, đã rỉ sét, đã qua sử dụng; 01 chùm chìa khóa gồm có 04 chìa, đã qua sử dụng.
Căn cứ các Kết luận định giá tài sản 99/KL - ĐG ngày 04/01/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:
- 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 71B4 – 579.07, đã qua sử dụng. Tỷ lệ sử dụng còn lại 70%; giá trị thiệt hại 42.000.000 đồng.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Cub 50, biển số 71FD – 1435, đã qua sử dụng. Tỷ lệ sử dụng còn lại 40%; giá trị thiệt hại 4.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Hồ Thị L, Trần Tấn P.
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSCĐ-HS ngày 22/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo Hồ Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự và Trần Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Bị cáo L thống nhất hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, không có ý kiến đối với các kết luận định giá tài sản.
- - Bị cáo P thống nhất hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, không có ý kiến đối với các kết luận định giá tài sản.
- - Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 170; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Thị L từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 02 năm đến 03 năm tù Cưỡng đoạt tài sản”.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Tấn P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt bổ sung, do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 71FD - 1435; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số A0042168 đề nghị trả cho bị hại Ngồi.
Đối với 01 ổ khóa hiệu HENGCHAN, sơn màu vàng, đã rỉ sét, đã qua sử dụng; 01 chùm chìa khóa gồm có 04 chìa; các vật chứng không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo L bồi thường số tiền 40.000.000 đồng là có căn cứ nên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại.
Luật sư trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo P: Thống nhất với Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc về định tội danh “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mặt khác bị cáo P chạy chiếc xe Cub trị giá 4.000.000 đồng và có ông ngoại là người có công với cách mạng nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an nhân dân thành phố C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi phạm tội:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng về thời gian, địa điểm cùng các vật chứng đã thu giữ, đã trả lại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định:
Khoảng 19 giờ ngày 10/10/2022 L lén lút lấy trộm số tiền 26.500.000 và cùng Trần Tấn P lấy trộm 02 xe mô tô trị giá 46.000.000 đồng của bị hại Nguyễn Văn N. Tổng giá trị tài sản L lấy trộm là 72.500.000 đồng; P lấy trộm 46.000.000 đồng.
Ngày 24/10/2022 L dùng thủ đoạn gian dối uy hiếp tinh thần của N để chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo L đã thỏa mãn mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản và cưỡng đoạt tài sản; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù 02 năm đến 07 năm tù (tội phạm nghiêm trọng) và tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù 01 năm đến 05 năm tù (tội phạm nghiêm trọng).
Hành vi của bị cáo P đã thỏa mãn mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).
Vì vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Vai trò đồng phạm của các bị cáo:
Đây là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có cấu kết chặt chẽ mà cùng nhau thực hiện trộm cắp tài sản. Tuy nhiên cần phân hóa vai trò để xem xét, tính chất, mức độ thực hiện phạm tội của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt. Trong vụ án này, bị cáo L là người chủ động, rủ rê và chỉ điểm cho bị cáo P thực hiện theo yêu cầu. Do đó, bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo P.
Đối với bị cáo P, với vai trò thực hành nghe theo sự chỉ bảo của bị cáo L trộm cắp xe mà không có lợi ích gì trong vụ việc đồng phạm này, sau khi lấy xe đi gửi về Bến Tre thì bị cáo đã không quan tâm đến tài sản này nên cần xem vai trò thứ yếu của bị cáo P để có mức hình phạt phù hợp với hành vi.
Riêng bị cáo L thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của bị hại nên phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi của mình.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả riêng bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trừng hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, riêng bị cáo P được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo P đang bị tạm giam, có 03 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có vai trò thứ yếu trong đồng phạm và không có lợi ích gì từ việc phạm tội này. Trong thời gian tạm giam để điều tra đến nay đã 08 tháng 07 ngày, bị cáo cũng đã nhận thức được sai lầm của mình nên không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà xem xét mức hình phạt tù bằng thời gian tạm giam cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo L bồi thường số tiền 40.000.000 đồng đã chiếm đoạt là có căn cứ nên buộc bị cáo L trả lại cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng theo quy định tại điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 71FD - 1435; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số A0042168, là tài sản của bị hại đã mua nên đề nghị trả cho bị hại.
Riêng 01 (một) ổ khóa hiệu HENGCHAN, sơn màu vàng, đã rỉ sét; 01 (một) chùm chìa khóa gồm có 04 chìa, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với Hồ Thị P2 đã nhận giữ 02 xe mô tô do L gửi nhưng khi nhận P2 không biết 02 xe mô tô trên là do L, P trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P2 về hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp.
Đối với Trương Thị H kêu N đưa L 40.000.000 đồng nhưng H không biết L nói dối đã cầm xe và mục đích để chiếm đoạt số tiền này nên không truy cứu trách nhiệm đối với H là phù hợp.
[10] Về án phí: Các bị cáo Hồ Thị L, Trần Tấn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.
Bị cáo L phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[11] Quyền kháng cáo: Các bị cáo và các bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
[12] Về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là cao so với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo; xuất phát từ việc bị hại đã thiếu nợ mà không thực hiện như đã hứa nên bị cáo bức xúc và xảy ra sự việc như nội dung vụ án đã nêu nên Hội đồng xét xử xem xét từng hành vi của các bị cáo mà có mức hình phạt phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 170; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 55; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Hồ Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản";
Xử phạt bị cáo Hồ Thị L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo L phải chấp hình phạt chung là 3 (ba) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo L được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Trần Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Tấn P 08 (tám) tháng 07 (bảy) ngày tù, bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo P, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Hồ Thị L bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn N số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trả lại cho Nguyễn Văn N: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 71FD - 1435, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số A0042168;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ổ khóa hiệu HENGCHAN, sơn màu vàng, đã rỉ sét; 01 (một) chùm chìa khóa gồm có 04 chìa.
(Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/6/2024).
- Về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Hồ Thị L, Trần Tấn P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Hồ Thị L phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Thị Phương |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
