|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20-12-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Duyên
Ông Đỗ Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Trọng N, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số B đường số E, đường M, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Chị Đào Thị Khánh H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số B đường B, P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.
Anh N và chị H đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 8 năm 2023, bản tự khai của nguyên đơn anh Dương Trọng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đào Thị Khánh H kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/10/2020. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Cũng thời điểm này chị H sống ở nhà bố mẹ đẻ tại quận H còn anh sống với bố mẹ tại huyện A nên vợ chồng không cùng sống với nhau từ đó đến nay. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài thêm nữa nên anh N làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đào Thị Khánh H.
- Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là cháu Dương Anh D, sinh ngày 06/10/2020. Vì cháu còn nhỏ, hiện nay do chị H chăm sóc nên anh N đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Đào Thị Khánh H trình bày:
Chị xác nhận điều kiện kết hôn, mâu thuẫn như anh N đã trình bày. Khi anh chị kết hôn thì sống tại nhà ngoại, sau đó thì vợ chồng đi đi về về sống cả hai bên nội ngoại. Từ tháng 4/2021, khi mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, không thể hòa giải thì chị về ở hẳn nhà bố mẹ đẻ còn anh N bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở A sinh sống, không ai còn quan tâm đến ai, giờ anh N có đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý vì anh chị không còn tình cảm với nhau. Về con chung: Anh chị có 01 con chung như anh N đã trình bày. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung chị cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, đến năm 2021 anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nay anh chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đã sống mỗi người một nơi từ tháng 4/2021 đến nay, không ai phụ thuộc ai về kinh tế nên anh N gửi đơn khởi kiện đến Tòa án, chị H cũng đồng ý ly hôn. Do vậy, cần xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh N giải quyết cho anh N được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh N và chị H có 01 con chung là cháu Dương Anh D, sinh ngày 06/10/2020. Cháu D còn quá nhỏ, từ khi anh chị sống ly thân thì cháu do chị H trực tiếp chăm sóc, mặt khác anh chị cũng thống nhất khi ly hôn giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của anh N, chị H giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tại thời điểm anh N khởi kiện, bị đơn là chị H cư trú tại quận H, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Anh Dương Trọng N và chị Đào Thị Khánh H đều vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Trọng N và chị Đào Thị Khánh H quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống: Năm 2021, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn. Từ tháng 4/2021 đến nay, anh chị đã sống mỗi người một nơi, không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế nữa. Nay anh N đề nghị ly hôn chị H đồng ý và anh chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An giải quyết cho anh chị được ly hôn. Hội đồng xét xử nhận định, thực tế chị H và anh N không còn chung sống cùng nhau, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình, vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của anh Dương Trọng N được ly hôn với chị Đào Thị Khánh H.
[4] Về con chung: Anh Dương Trọng N và chị Đào Thị Khánh H có 01 con chung là cháu Dương Anh D, sinh ngày 06/10/2020. Xét cháu D còn nhỏ và hiện nay đang do chị H chăm sóc, anh chị thống nhất đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị H và anh N, giao con chung là cháu Dương Anh D cho chị Đào Thị Khánh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Anh Dương Trọng N và chị Đào Thị Khánh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết..
[6] Về án phí: Anh Dương Trọng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Anh Dương Trọng N và chị Đào Thị Khánh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Trọng N được ly hôn với chị Đào Thị Khánh H.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Dương Anh D, sinh ngày 06/10/2020 cho chị Đào Thị Khánh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh N và chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh Dương Trọng N và chị Đào Thị Khánh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí:
- Anh Dương Trọng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005013 ngày 23 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Anh N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Anh Dương Trọng N và chị Đào Thị Khánh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Mai Thị Duyên |
Đỗ Văn Minh |
Nguyễn Thị Hằng |
Nơi nhận:
- - TAND TP. Hải Phòng;
- - VKSND quận Hải An;
- - Chi cục THA DS quận Hải An;
- - UBND phường Đông Hải 1, quận Hải An, Tp Hải Phòng;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Hồ sơ, HCTP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 59/2023/HNGĐ-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 59/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
