Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 20 - 8 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn.

Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Khải.

Ông Lê Văn Chấn

Ông Trần Ngọc Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Thành T, sinh ngày 07 tháng 01 năm 1997, tại tỉnh Tiền Giang (Số C: 082097017000);

  • - Đăng ký HKTT: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12;
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
  • - Cha: Nguyễn Văn S; Mẹ: Trần Thị T1;
  • - Vợ: Cù Thị Kim A, sinh năm 1999 và có 01 con.
  • - Tiền sự: Không.
  • - Tiền án: 01 lần
  • + Ngày 28/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 03 tháng tù về “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 21/2016/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/02/2018.
  • - Bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2024; tạm giam ngày 18/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Ngọc P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).

2/ Họ và tên: Trần Khánh V, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1993, tại tỉnh Tiền Giang (Số C: 082093004705);

  • - Đăng ký HKTT: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12.
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
  • - Cha: Trần Kim P1; Mẹ: Lê Thị T2; Bị cáo chưa có vợ, con.
  • - Tiền án, tiền sự: Không.
  • - Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2024, tạm giam ngày 18/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Thị Thu T3 – Công ty L1 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có đơn xin vắng mặt và gửi bài bào chữa cho Tòa án).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Kim P1; sinh năm 1964;

Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

* Người làm chứng:

  1. Trần Nguyên V1, sinh năm 1998 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang

  3. Trần Quốc H, sinh năm 2003 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: ấp Thạnh Kiết, xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

  5. Lê Hữu T4, sinh năm 1990 (vắng mặt);
  6. Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang

  7. Phạm Văn B, sinh năm 1997 (vắng mặt);
  8. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang

  9. Trần Minh T5, sinh năm 1997 (vắng mặt);
  10. Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 0 giờ 15 phút ngày 10 tháng 01 năm 2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã B và Cơ quan Quân sự xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành TTrần Khánh V đang tàng trữ trái phép chất ma túy và nhiều dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ông Trần Kim P1, sinh năm 1964 thuộc ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nhằm mục đích mua bán.

Tang vật, đồ vật được thu giữ gồm:

  • - 35 gói nilon màu trắng có viền xanh một đầu dạng túi Zip được vuốt kín, bên trong mỗi gói nilon chứa nhiều tinh thể nghi là ma túy được cho vào bì thư niêm phong (ký hiệu số 1)
  • - 01 gói ni lon màu trắng dạng túi Zip bên trong chứa nhiều tinh thể nghi là ma túy được cho vào bì thư niêm phong (ký hiệu số 2)
  • - 01 gói nilon màu trắng có viền xanh một đầu dạng túi Zip được vuốt kín, bên trong chứa nhiều tinh thề nghi là ma túy được cho vào bì thư niêm phong (ký hiệu số 3).
  • - 05 gói ni lon màu trắng có viền đỏ bên trong có chứa nhiều tinh thể nghi là ma túy được cho vào bì thư niêm phong (ký hiệu số 4).
  • - 01 bình gas mini
  • - 01 bộ đầu khò
  • - 02 cân tiểu ly
  • - 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá.
  • - 28 nỏ thủy tinh.
  • - 156 ống thủy tinh hình trụ tròn.
  • - 01 hộp giấy màu vàng đen (bên trong không có gì); 01 hộp giấy màu vàng đen, bên trong có 01 đoạn ống hút màu trắng và 01 túi ni lon viền đỏ không có chứa gì; 01 hộp kim loại màu vàng đỏ; 01 hộp kim loại màu xanh trắng; 01 túi xách có quay đeo; 650 gam túi ni lon các loại (bên trong không có chứa gì); 02 túi xách màu đỏ; 02 hộp nhựa màu xanh.
  • - 01 điện thoại di động hiệu SamSung A 12 màu xanh đen
  • - 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu đen trắng
  • - 01 xe mô tô biển số 63B4 – 74513.

Căn cứ kết luận giám định số 05 ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • - Gói 1 (ký hiệu 1): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 7,0280 gam, loại Methamphetamine.
  • - Gói 2 (ký hiệu 2): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,2188 gam, loại Methamphetamine.
  • - Gói 3 (ký hiệu 3): Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1781 gam, loại Methamphetamine.
  • - Gói 4 (ký hiệu 4): Các mẫu gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 54,1473 gam loại Methamphetamine.

Tổng cộng trong 04 gói niêm phong có khối lượng 65,5722 gam ma túy loại Methamphetamine.

Qua điều tra các bị cáo Nguyễn Thành TTrần Khánh V đã xác định:

* Hành vi mua bán trái phép chất ma túy:

1. Đối với bị cáo Nguyễn Thành T: Năm 2023, Nguyễn Thành T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, nguồn ma túy do T mua của những người (không biết tên họ, địa chỉ ở thị xã G nay là thành phố G, tỉnh Tiền Giang) để sử dụng. Đến khoảng tháng 11 năm 2023, để có tiền sử dụng ma túy, thông qua bạn bè ở huyện C, tỉnh Tiền Giang giới thiệu, T sử dụng điện thoại 0704.963.xxx trực tiếp hỏi mua ma túy của người nam tên Đ ở tỉnh Long An (không biết địa chỉ cụ thể) với mục đích về bán lại cho người khác. Tính đến ngày bị bắt quả tang, T mua của Đ tổng cộng được 04 lần, trong đó có 03 lần T đến khu vực gần bệnh viện L2 thuộc tỉnh Long An để nhận 01 gói ma túy khoảng 05 gam với giá 3.000.000 đồng, sau đó đem về nhà của Trần Khánh V thuộc ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, trực tiếp phân chia ra mỗi lần được 30 gói ma túy và giao cho Trần Khánh V cất giữ nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện với giá bán mỗi gói là 200.000 đồng, 300.000 đồng và 500.000 đồng. Bản thân Nguyễn Thành T đã trực tiếp bán cho:

  • - Phạm Văn B, sinh năm 1991, cư trú ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 01 gói ma túy Methamphetamine với giá 200.000 đồng, địa điểm bán ma túy là tại trước cửa nhà của Trần Khánh V.
  • - Trần Quốc H, sinh năm 2003, cư trú ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 01 gói ma túy Methamphetamine với giá 200.000 đồng, địa điểm bán ma túy là tại trước cửa nhà của Trần Khánh V.

Ngoài ra Nguyễn Thành T còn bán ma túy cho một số người ở khu vực huyện C, tỉnh Tiền Giang nhưng T không nhớ tên họ và địa chỉ cụ thể, chỉ nhớ bán mỗi lần 01 gói ma túy Methamphetamine với giá 200.000 đồng đến 300.000 đồng và tính đến ngày bị bắt quả tang Nguyễn Thành TTrần Khánh V đã mua bán ma túy 03 lần, mỗi lần trừ các chi phí, trả công cho V phụ giúp mua bán ma túy mỗi lần với số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Thành T còn thu được số tiền 24.000.000 đồng.

Đến lần thứ 4, cách ngày bị bắt quả tang khoảng 02 ngày Đ điện thoại yêu cầu T lấy số lượng ma túy nhiều khi bán xong rồi trả tiền cho Đ, nên lần này Nguyễn Thành T hẹn gặp Đ tại khu vực xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang để nhận 06 bịch ma túy loại Methamphetamine có trong lượng hơn nửa lạng (50 gam) với giá 21 triệu đồng, T nhận ma túy và trả cho Đ số tiền 10.500.000 đồng, số còn lại T thiếu Đ và hẹn khi bán ma túy xong rồi mới trả. Sau khi nhận ma túy, T đem về nhà của V lấy 01 bịch phân chia ra được 36 gói ma túy nhỏ và giao cho V cất giữ cho đến 0 giờ 15 phút ngày 10/01/2024 thì bị lực lượng Công an đến bắt quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan.

2. Đối với bị cáo Trần Khánh V: Trần Khánh V bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine từ năm 2023, nguồn ma túy lúc đầu có sử dụng do bạn bè mua cùng sử dụng chung, trong đó có Nguyễn Thành T nên từ đó V quen biết được T. Khoảng tháng 10/2023 V có biết T bán ma túy nên xin nhận phụ giúp T mua bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Từ tháng 10/2023, theo thỏa thuận T mang ma túy đến nhà của V để phân chia ra từng gói nhỏ giao cho V cất giữ được 04 lần, trong đó có 03 lần, mỗi lần 30 gói ma túy loại Methamphetamine với mục đích là để VT bán cho người nghiện với giá bán mỗi gói là 200.000 đồng, 300.000 đồng và 500.000 đồng. Lần thứ 4 cách ngày bị bắt khoảng 02 ngày T mang ma túy loại Methamphetamine đến nhà của V để phân chia ra từ 01 gói ma túy lớn thành 36 gói ma túy nhỏ và 05 gói lớn còn lại T chưa phân chia. T giao hết cho V cất giữ để bán cùng với T cho đến 0 giờ 15 phút ngày 10/01/2024 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ các vật chứng có liên quan. Bản thân Trần Khánh V đã trực tiếp bán cho:

  • - Trần Nguyên V1, sinh năm 1988, cư trú: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 03 lần mỗi lần 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.
  • - Trần Quốc H, sinh năm 2003, cư trú: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 05 lần mỗi lần 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 200.000 đồng.
  • - Lê Hữu T4, sinh năm 1990, cư trú ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 200.000 đồng.
  • - Phạm Văn B, sinh năm 1991, cư trú ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 01 lần 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 200.000.
  • - Trần Minh T6, sinh năm 1997, cư trú: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, 03 lần mỗi lần 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 200.000 đồng.

Ngoài ra V khai nhận còn bán ma túy cho rất nhiều người ở khu vực xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang nhưng V không nhớ tên, địa chỉ và số lần cụ thể, chỉ nhớ mỗi lần bán 01 gói ma túy đá với giá tiền từ 200.000 đồng, 300.000 đồng và cao nhất là 500.000 đồng và tính đến ngày bị bắt quả tang, Trần Khánh V đã được Nguyễn Thành T trả công số tiền 9.000.000 đồng.

* Hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy: Trong khoảng thời gian mua bán ma túy, Nguyễn Thành T còn sử dụng điện thoại lên mạng xã hội đặt mua ống thủy tinh dạng đầu thẳng, sau đó đem về giao cho Trần Khánh V. Trong thời gian trên, Nguyễn Thành T giao cho V được 03 lần, 02 lần đầu T giao cho Trần Khánh V mỗi lần 100 ống và lần thứ 3 cách ngày bị bắt quả tang khoảng 10 ngày T giao cho V 200 ống thủy tinh dạng hai đầu thẳng. Mục đích T giao cho V cất giữ để V sử dụng đầu khò có gắn bình gas mini sản xuất thành 28 nỏ thủy tinh là dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy bán cho người nghiện với giá 50.000 đồng/cái. Trần Khánh V bán dụng cụ nỏ chủ yếu bán cho những người (không biết tên và địa chỉ cụ thể) ở huyện T, tỉnh Tiền Giang, khi đến mua ma túy loại Methamphetamine và mua dụng cụ nỏ trong ngày, V đều gom tiền lại giao cho Nguyễn Thành T và mỗi tuần T trả công cho V số tiền 1.500.000 đồng.

Giai đoạn khởi tố điều tra, truy tố, các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Khánh V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có liên quan và người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với người thanh niên ở Long An đã bán ma túy cho T, T khai nhận không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người thanh niên trên. T cũng không nhớ và không lưu số điện thoại của người bán do người này thường xuyên thay đổi số thuê bao khi liên lạc với T. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành xác minh được, hiện đang tiếp tục điều tra nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Phạm Văn B, Trần Quốc H, Trần Nguyên V1, Lê Hữu T4Trần Minh T5 có hành vi mua ma túy của các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Khánh V để sử dụng trái phép, Ủy ban nhân dân xã Bxã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên.

Đối với việc Nguyễn Thành TTrần Khánh V tàng trữ trái phép chất ma túy và sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của ông Trần Kim P1, sinh năm 1964, cư trú ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Ông P1 không biết Trần Khánh V sử dụng, mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng ngủ của V và sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra không khởi tố Trần Kim P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là có cơ sở

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSTG-P1 ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố các bị cáo Nguyễn Thành TTrần Khánh V về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 và điểm b, đ khoản 2 Điều 254 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Khánh V thống nhất khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố đối với các bị cáo.
  • - Luận tội của kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm b, đ khoản 2 Điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
  • + Bị cáo Nguyễn Thành T từ 17 đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 06 đến 07 năm tù về tội “Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 23 đến 25 năm tù.
  • + Bị cáo Trần Khánh V từ 15 đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 05 đến 06 năm tù về tội “Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 20 đến 22 năm tù.
  • Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phần xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
  • - Luật sư bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Khánh V có ý kiến thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng định khung hình phạt; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo; bản thân không có tiền án, tiền sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị xét số tiền thu lợi bất chính sau khi khấu trừ số tiền bị cáo sử dụng mua ma túy bị bắt quả tang.
  • + Luật sư bào chữa cho bị cáo V đề nghị xem xét vai trò bị cáo chỉ là người giúp sức, làm công không được bàn bạc gì trước khi thực hiện hành vi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Người làm chứng Trần Nguyên V1, Trần Quốc H, Lê Hữu T4, Phạm Văn B, Trần Minh T5 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[1.2] Xét các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố Tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Khánh V tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài, chứng cứ được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ xác định: Để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, bị cáo T đã nhiều lần mua ma túy, ống thủy tinh của các đối tượng không rõ họ tên và địa chỉ rồi chia thành nhiều tép nhỏ và giao cho bị cáo V chế tạo ống thủy tinh thành nỏ sử dụng ma túy rồi nhau bán cho các đối tượng tại địa phương.

Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/01/2024, TV bị bắt quả tang tàng trữ 65,5722 gam ma túy loại Methamphetamine; 156 ống thủy tình hình trụ tròn và 28 nỏ thủy tinh là dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy để nhằm mục đích bán cho người khác. Vì thế, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Khánh V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 và điểm b, đ khoản 2 Điều 254 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, không oan, sai.

[3] Nhận thấy, về ý thức chủ quan các bị cáo nhận thức được rằng, ma túy là chất hướng thần gây nghiện, gây tổn hại về thần kinh cho người sử dụng, làm cho người sử dụng thay đổi trạng thái tâm lý, sa sút về tinh thần, tha hóa về nhân cách, có lối sống sai lệch so với chuẩn mực đạo đức của xã hội và pháp luật.....; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì thế, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng.... trái phép chất ma túy. Thế nhưng, chỉ vì tư lợi và đáp ứng cho lối sống trụy lạc của bản thân mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức tôn trọng pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Vai trò, tính chất và mức độ nguy hiểm của các bị cáo thể hiện như sau:

[5.1] Bị cáo T là người trực tiếp mua ma túy, ống thủy tinh để chế tạo dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy; trực tiếp chia ma túy và cùng với bị cáo V bán cho các đối tượng nghiện; giao ống thủy tinh cho V chế tạo thành nỏ bán cho những người sử dụng ma túy, nên bị cáo là người phải chịu trách nhiệm chính.

[5.2] Để đáp ứng cho lối sống trụy lạc của bản thân, bị cáo V đã giúp sức cho bị cáo T bán ma túy và chế tạo các ống nỏ dùng cho việc sử dụng ma túy để bán cho các đối tượng nghiện. Vì thế, hành vi phạm tội của bị cáo cũng cần xử phạt nghiêm khắc.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong gia đoạn chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo V nộp số tiền 9.000.000 đồng thu lợi bất chính, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì thế, ý kiến của các luật sư đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
  • - Các bị cáo phạm tội nhiều lần, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma túy, dụng cụ để chế tạo dụng cụ dùng vào việc sử dụng mà túy và nỏ dùng vào việc sử dụng ma túy là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Điện thoại di động, xe mô tô, bình ga mini, bộ đầu khò, cân tiểu ly và một số vật dụng lặt vặt là phương tiện, dụng cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước và tiêu hủy.
  • - Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội buộc các bị cáo nộp vào Ngân sách nhà nước, nên không chấp nhận ý kiến của luật sư khấu trừ một phần mà bị cáo T sử dụng mua ma túy bị bắt quả tang.
  • - Số tiền gia đình bị cáo V tạm nộp cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành TTrần Khánh V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm b, đ khoản 2 Điều 254; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Trần khánh V2 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Thành T 18 (Mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (S1) năm tù về tội “Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 24 (Hai mươi bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
  • - Bị cáo Trần Khánh V 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (S1) năm tù về tội “Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 21 (Hai mươi một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) Bì thư niêm phong Kí hiệu vụ số 05/1 ghi ngày 12/01/2024; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thanh T7, Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Nguyễn Quốc P2 (Trợ lý giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Võ Tuấn K (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - C; Tình trạng: Còn nguyên vẹn theo Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T và biên bản đóng gói niêm phong ngày 12/01/2024.
  • - 01 (một) Bì thư niêm phong Kí hiệu vụ số 05/2 ghi ngày 12/01/2024; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thanh T7, Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Nguyễn Quốc P2 (Trợ lý giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Võ Tuấn K (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - C; Tình trạng: Còn nguyên vẹn theo Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T và biên bản đóng gói niêm phong ngày 12/01/2024.
  • - 01 (một) Bì thư niêm phong Kí hiệu vụ số 05/3 ghi ngày 12/01/2024; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thanh T7, Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Nguyễn Quốc P2 (Trợ lý giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Võ Tuấn K (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - C; Tình trạng: Còn nguyên vẹn theo Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T và biên bản đóng gói niêm phong ngày 12/01/2024.
  • - 01 (một) Bì thư niêm phong Kí hiệu vụ số 05/4 ghi ngày 12/01/2024; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thanh T7, Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Nguyễn Quốc P2 (Trợ lý giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Võ Tuấn K (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K; Tình trạng: Còn nguyên vẹn theo Kết luận giám định số 05/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T và biên bản đóng gói niêm phong ngày 12/01/2024.
  • - 01 (một) Bình gas mini
  • - 01 (một) đầu khò.
  • - 01 (một) Cân tiểu ly
  • - 01 (một) Bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá
  • - 28 (hai mươi tám) Nỏ thủy tinh
  • - 156 (một trăm năm sáu) Ống thủy tinh hình trụ tròn.
  • - 01 (một) Hộp giấy màu vàng đen, bên trong không chứa gì.
  • - 01 (một) Hộp giấy Màu vàng đen, bên trong có (một) đoạn ống hút màu trắng và (một) túi nylon viền đỏ không chứa gì.
  • - 01 (một) Hộp kim loại Màu vàng đỏ.
  • - 01 (một) Hộp kim loại Màu xanh trắng.
  • - 01 (một) Túi xách có quai đeo
  • - 650 (sáu trăm năm mươi) gram Túi nilon các loại bên trong không chứa gì. 17.
  • - 01 (một) Túi xách Màu đỏ.
  • - 01 (một) Hộp nhựa Màu xanh.

* Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu Samsung A12 màu xanh đen số imei: 352884791006118 máy đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong máy điện thoại.
  • - 01 (một) Điện thoại di động hiệu S2 màu đen trắng số imei: 359116089369962 máy đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong máy điện thoại.
  • - 01 (một) Xe môtô gắn biển số 63B4-745.13 số khung không xác định, số máy: JF86E2213068 xe đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong máy.

* Buộc các bị cáo nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội sung và ngân sách Nhà nước:

  • - Bị cáo Nguyễn Thành T: 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng);
  • - Bị cáo Trần Khánh V: 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), khấu trừ số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), do ông Trần Kim P1 (cha ruột của bị cáo) nộp theo biên lai thu số 0000239 ngày 07/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, nên bị cáo đã thi hành xong.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thành TTrần Khánh V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TG;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh TG;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh TG;
  • - Sở tư pháp tỉnh TG;
  • - Phòng KTNV và THA (TAT);
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy; sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Sản xuất, tàng trữ, mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/01/2024, T và V bị bắt quả tang tàng trữ 65,5722 gam ma túy loại Methamphetamine; 156 ống thủy tình hình trụ tròn và 28 nỏ thủy tinh là dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy để nhằm mục đích bán cho người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger