TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2025/HSST Ngày 20/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách và Bà Nguyễn Thị Chung.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Khánh, Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2025/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Thị L, sinh năm 1981.
HKTT: Khu phố P, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con út; Chồng: Nguyễn Đức N, sinh năm 1980. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 13/10/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.
- Bị cáo: Hoàng Thị N1, sinh năm 1987.
HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T2 (đã chết) và bà Bùi Thị M; Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Chồng: Lê Quang T3, sinh năm 1983 (đã ly hôn). Con: Có 01 con, sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính về lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội số 207 ngày 23/9/2014 của Công an quận T, TP Hà Nội xử phạt 200.000 đồng về hành vi "Bán dâm".
Bị cáo bị bắt từ ngày 13/10/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.
- Bị cáo: Triệu Văn T4, sinh năm 1995.
HKTT: Búc Duộng, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Phúc T5 và bà Triệu Thị S; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nông Thị D, sinh năm 2001. Con: Có 01 con, sinh năm 2020; Tiền sự, nhân thân: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 41/2017/HSST ngày 22/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS 1999, Ngày 23/3/2018, Tiếp chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Đến ngày 07/01/2025, Tiếp chấp hành xong bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại và toàn bộ Bản án;
Bị cáo bị bắt từ ngày 13/10/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Kim S1 – Cán bộ phụ trách tin học Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
- Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị L thuê nhà để mở cửa hàng trà chanh F ở khu phố P, phường P, thị xã Q. Quá trình buôn bán có thuê Hoàng Thị N1 làm nhân viên bán hàng cùng. Do nợ nần và không có tiền tiêu sài nên L rủ N1 cùng chung tiền mua ma túy để bán lợi nhuận sẽ chia đôi. Sáng ngày 13/10/2024, L đến khu vực cầu vượt G thuộc khu G, phường P mua 09 gói ma túy loại Heroine của 01 người đàn ông không quen biết với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, L mang số ma túy mua được về cửa hàng trà F đưa 04 gói Heroine vừa mua được cho N1 và bảo bán với giá 300.000 đồng/01 gói, còn 05 túi ma túy còn lại L nói cho N1 biết cất tại phòng ngủ tầng 2 của cửa hàng, khi nào N1 bán hết 04 túi trên thì mang ra bán tiếp. Đến khoảng 19 giờ 15 cùng ngày 13/10/2024, khi N1 đang trông cửa hàng bán trà chanh Fieu Milk tea & coffee thì Triệu Văn T4 đi vào trong cửa hàng gặp N1 đặt vấn đề mua 300.000 đồng tiền ma túy Heroine rồi đưa cho N1 01 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng. N1 cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên trái, rồi lấy từ trong ngăn kéo của quầy nước 01 túi nilon ma túy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng để lên mặt bàn. Tiếp cầm túi ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi ra đến cửa thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như trên.
Cùng ngày 13/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q khám xét khẩn cấp cửa hàng trà chanh của L thu giữ tại nền phòng ngủ tầng 2 của quán 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 05 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng.
Nhận thức hành vi phạm tội bị phát hiện, tối ngày 13/10/2024, Nguyễn Thị L đến C1 và khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ:
- + Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của N1 03 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1).
- + Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Triệu Văn T4 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2).
- + Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của N1 số tiền 300.000 đồng.
- + Thu giữ tại nền phòng ngủ tầng 2 của quán 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 05 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3).
Tại bản Kết luận giám định số 2358/KL-KTHS ngày 16/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- “ - Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1100 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).
- - Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,1511 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).
- - Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M3 gửi giám định có khối lượng là 0,1729 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Н).”
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, cả ba bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSQV ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Thị L và Hoàng Thị N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Triệu Văn T4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, cả ba bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thị L và bị cáo Hoàng Thị N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Triệu Văn T4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L và Hoàng Thị N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Triệu Văn T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Thị L từ 32 tháng đến 38 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt: Hoàng Thị N1 từ 30 tháng đến 36 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Triệu Văn T4 từ 18 tháng đến 22 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Triệu Văn Tiếp nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của ba bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 13/10/2024, tại cửa hàng trà F ở ở khu phố P, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường C, thị xã Q phối hợp với Công an phường P phát hiện bắt quả tang Hoàng Thị N1 có hành vi bán trái phép 0,1511 gam ma tuý H cho Triệu Văn T4 lấy số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ 0,2829 gam ma tuý Heroin (0,1100 gam thu giữ trong túi quần N1; 0,1729 gam thu giữ trong phòng ngủ của L và N1) với mục đích để bán. Số ma túy này là của Nguyễn Thị L và Hoàng Thị N1 cùng góp tiền mua ma túy về bán. Như vậy, Nguyễn Thị L và Hoàng Thị N1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với trọng lượng là 0,434 gam Heroine. Triệu Văn T4 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với trọng lượng là 0,1511 gam Heroin. Do đó, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Thị L và Hoàng Thị N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Triệu Văn T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Q. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử các bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo L và bị cáo N1 thực hiện với lỗi cố ý thực hiện chung một loại tội phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo L là người rủ bị cáo N1 mua ma tuý về bán để kiếm lời và cũng là người đi mua ma tuý, hai bị cáo là người cùng góp chung tiền để mua ma tuý nên xét về vai trò trong vụ án thì bị cáo L có vai trò nhỉnh hơn bị cáo N1.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với ba bị cáo thì thấy: Bị cáo L và bị cáo N1 không có tình tiết tăng nặng, bị cáo T4 có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này phải chịu tình tiết tăng nặng "Tái phạm" quy định tại điểm h, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo N1 là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “bán dâm” nhưng bị cáo đều không rút kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay ba bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cả ba bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo L đã ra cơ quan Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và có mẹ chồng là bà Nguyễn Thị C được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, bố chồng là ông Nguyễn Đức Á được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho L và người đàn ông đã chở T4 đến cửa hàng F để mua túy, quá trình điều tra L và T4 không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng của vụ án: mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số tiền 300.000 đồng của N1 là tiền do thực hiện tội phạm mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị N1 có gia đình thuộc hộ nghèo nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo L và bị cáo T4 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L và Hoàng Thị N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Triệu Văn T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt: Nguyễn Thị L 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt: Hoàng Thị N1 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt: Triệu Văn T4 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng. (Theo biên bản giao vật chứng và biên lai thu tiền ngày 22/01/2025 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Thị N1. Bị cáo Nguyễn Thị L và bị cáo Triệu Văn T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về kháng cáo: Áp dụng điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Đắc Dũng |
Bản án số 59/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự
- Số bản án: 59/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L & ĐP - Mua bán + Tàng trữ TPCMT
