|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HS-ST
Ngày 19-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Moong Công Hải
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Vang Thanh Hải
Bà Đặng Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Quốc Ất - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án huyện T, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Thị Đ, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 22 tháng 02 năm 1982 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn H và con bà Vi Thị S (Pịt); Chồng: Vy Văn K (Đã ly hôn), con: Có 03 người con; Tiền án: Ngày 22/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 85/2023/HS-ST, nhưng do bị cáo nuôi con nhỏ nên được hoãn theo quyết định hoãn thi hành án số 06/2023/THAHS-QĐ, ngày 23/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương với thời hạn 01 (Một) năm, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/9/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 12 (Mười hai) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Do được hoãn thi hành án nên đến ngày 09/12/2014 chấp hành xong và đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 6 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt
- Người làm chứng: Anh Lay Thị Thu L, Ngân Văn C. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong khoảng thời gian từ ngày 17/5/2024 đến ngày 27/5/2024, Lương Thị Đ đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho Lay Thị Thu L cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 17/5/2024 khi Lương Thị Đ đang bế con đứng trước cổng nhà của Lương Xu L1 (người sống chung như vợ chồng với Đ) ở bản Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An thì có Lay Thị Thu L và Ngân Văn C đến gặp hỏi mua ma túy sử dụng. Khi gặp nhau, Đ nói L và C đi vào trong nhà nói chuyện. Vào trong nhà, Lay Thị Thu L đưa cho con trai Lương Thị Đ 20.000đ rồi nói với Đ: “Cho cháu tiền mua bim bim ăn” và tiếp tục nói Đ: “Bán cho em ba trăm nghìn gà, em mua về chơi, không phải để bán” (Ý lan nói Đ bán cho L ba trăm nghìn đồng H1 phiến về để sử dụng). Nói xong, L đưa cho Đa số tiền 300.000đ. Lương Thị Đ cầm tiền rồi bồng con đi ra khu vực đồi thuộc bản Đửa, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 06 viên hồng phiến với số tiền 300.000đ. Mua ma túy xong, Lương Thị Đ quay về nhà đưa cho Lay Thị Thu L 05 viên hồng phiến được gói bằng bao ni lông màu đen, còn 01 viên Đa cất để sử dụng. L cầm ma túy rồi cùng với Ngân Văn C đi về và tìm nơi vắng vẻ sử dụng hết cả 05 viên mua của Lương Thị Đ. Đối với viên ma túy Đa cất dấu sau đó Đ đã sử dụng hết.
Lần thứ hai: Vào khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 27/5/2024, Lương Thị Đ đang bồng con ở trong nhà của Lương Xu L1 thì thấy Ngân Văn C điều khiển xe máy chở Lay Thị Thu L cùng với 01 bì gạo đi vào nhà. Gặp Đa L2 đưa cho Đa số tiền 300.000đ và nói: “Chị bán cho em mấy con gà” (Ý L3 nói Đ bán cho L3 ba trăm nghìn hồng phiến). Lương Thị Đ1 cầm lấy tiền rồi đi bộ một mình ra khu vực đồi phía sau nhà Lương Xa L4 để mua ma túy đưa về bán cho L3. Đa đi bộ được khoảng 05 phút thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 04 viên hồng phiến với số tiền 250.000đ, Đ giữ lại 50.000đ. Mua ma túy xong, Lương Thị Đ quay về nhà đưa số ma túy trên được gói bằng bao ni lông màu đen cho Lay Thị Thu L. L cầm ma túy rồi Ngân Văn C điều khiển xe máy chở L đi về. Khi về đến đoạn đường vắng thuộc bản X, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An, Ngân Văn C dừng xe rồi cả hai lấy số ma túy vừa mua của Lương Thị Đ ra sử dụng hết. Khi Lay Thị Thu L và Ngân Văn C sử dụng xong ma túy thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lay Thị Thu L 01 bao ni lông màu đen.
Căn cứ vào lời khai của Lay Thị Thu L, Ngân Văn C và vật chứng thu giữ, ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T Dương ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lương Thị Đ.
Tại bản kết luận giám định số: 631/KL-KTHS (Đ2-MT), ngày 11/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Trên bao ni lông màu đen thu giữ của Lay Thị Thu L gửi đến giám định có bám dính chất ma túy; loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-TD ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lương Thị Đ về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lương Thị Đ mức án từ 07 năm 02 tháng đến 07 năm 06 tháng, tổng hợp hình phạt với bản án số 85/2023/HS-ST thì mức án từ 09 năm 04 tháng đến 09 năm 08 tháng, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án; Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 50.000₫ do bị cáo bán ma túy mà có.
Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng mình ở mức thấp nhấp theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lương Thị Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào các ngày 17/5/2024 và ngày 27/5/2024, tại bản Đửa, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lương Thị Đ đã mua và bán trái phép hai lần chất ma túy (Methamphetamine) cho Lay Thị L với tổng số tiền 600.000 đồng. Đ đã thu lời 01 viên Methamphetamine và 50.000đ. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát
nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án đây là tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với những người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Đ, do Đ không biết rõ lai lịch, địa chỉ và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra xử lý.
Đối với Lay Thị Thu L là người đã mua ma tuý của Đ để sử dụng. Do hành vi này của L không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã giao cho chính quyền địa phương xử lý.
[7] Xử lý vật chứng: 01 (Một) bao ni long màu đen thu giữ của Lay Thị Thu L là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
[8] Biện pháp tư pháp: Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 50.000₫ do bị cáo Đ bán ma túy mà có.
[9] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Thị Đ 07 (Bảy) năm 02 (H2) tháng tù về tội. “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại Bản án số 85/2023/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo Lương Thị Đ 02 (Hai) năm 02 (H2) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bị cáo chưa chấp hành)
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của cả hai bản án, bị cáo phải chấp hành hình phạt là 09 (Chín) năm 04 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024.
[2] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Truy thu từ bị cáo Lương Thị Đa số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.
+ Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 13.8.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Thị Đ.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/9/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Moong Công Hải |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
