Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/DS-PT

Ngày 19 tháng 8 năm 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền.

Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Ông Nguyễn Hán Hưởng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số: 60/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 74/2024/QĐXX-PT ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1971 và bà Hà Thị Bích H, sinh năm 1974; địa chỉ đều ở: Xóm D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn X: Bà Hà Thị Bích H, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

  • Ông Nguyễn Xuân V và bà Nguyễn Thị Thanh P - Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số B ngõ A đường T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.
  • Ông Nguyễn Trường T - Luật sư thuộc Văn phòng L2 - Đoàn Luật sư thành phố C; địa chỉ: E H, phường B, quận N, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Như T1, sinh năm 1975; đều ở địa chỉ: Khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  • Anh Nguyễn Hải L, sinh năm 2000; Địa chỉ: Xóm M, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Hải L: Ông Bùi Đức D - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.

Người làm chứng:

  • Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952; địa chỉ: Khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  • Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1967; địa chỉ: Khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số132/QĐ-VKS-DS ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.

(Ông S, bà T1, ông V,chị T2 có mặt. Ông X, bà H, bà P, ông T, anh L, ông D, bà Đ, bà S1 văng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Hà Thị Bích H trình bày: Năm 2003 gia đình ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất là 10.600m² đất rừng và đất ao nằm trong diện tích 68.000m² tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số F48103Ad2 tại đồi Đ ở Khu F xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ theo Giấy chứng nhận QSD đất số H000115 do UBND huyện T cấp ngày 18/10/2000 của gia đình ông Nguyễn Văn N và vợ là bà Nguyễn Thị Đ với giá là 3.000.000đ. Gia đình ông X và bà H đã thanh toán cho bà Đ và các con bà Đ đủ số tiền 3.000.000đ, gia đình bà Đ cũng đã bàn giao đất cho gia đình ông X và bà H để sử dụng. Sau khi được bàn giao đất gia đình ông X, bà H đã thường xuyên đi lại, chăm sóc cây trồng trên đất, thuê máy móc sửa sang lại khu ao, xây dựng lại cống thoát nước, làm đường đi lại. Năm 2011 gia đình ông bà H đã dựng 01 căn nhà tạm bằng gỗ để ở, trông và chăm sóc cây trồng, ao cá; thời gian từ năm 2011 đến 2012 gia đình ông bà đã trồng và thu hoạch sắn trên khu đất, sau đó lại tiếp tục trồng các cây xoan, cây keo trên toàn bộ khu đất. Ngày 30/3/2012 gia đình ông X, bà H đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 522677, thửa số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2, diện tích 10.600m2 tại Khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, mấy năm gần đây ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 đã trồng cây trái phép trên một phần diện tích 10.600m² đất nhà ông X, bà H. Cụ thể đã trồng cây bạch đàn trên toàn bộ phần đất giáp ao và giáp lối vào khu đất cạnh ao khoảng 1.000m². Nay ông X, bà H đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông S, bà T1 phải di dời toàn bộ các cây trồng và trả lại khoảng 1.000m² đất đã lấn chiếm của gia đình ông X, bà H. Trường hợp số cây trên không di dời thì ông bà sẽ mua lại toàn bộ số cây và trả tiền cho ông S, bà T1 theo giá trị cây đã được định giá.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 thống nhất trình bày: Ông S và bà T1 xác định hiện tại ông bà có trồng cây bạch đàn tại diện tích khoảng 1.000m² trên toàn bộ phần đất giáp ao và giáp lối vào khu đất cạnh ao như ông X bà H trình bày. Tuy nhiên ông S và bà T1 xác định diện tích khoảng 1.000m² trồng cây bạch đàn nói trên là đất của gia đình ông S và bà T1, phần diện tích đất này nằm trong diện tích đất khoảng 3.900m², nguồn gốc đất là do gia đình ông S và bà T1 khai hoang từ năm 1992 chưa được cấp GCNQSD đất. Hiện diện tích đất khai hoang này gia đình ông S và bà T1 đang làm hồ sơ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được đo đạc có các mốc giới cụ thể. Mặt khác diện tích đất 10.600m² của ông X bà H cũng đã có các mốc giới cụ thể và nằm tách biệt khỏi khu đất của gia đình ông S bà T1 (cách 01 cái ao trước đây). Do vậy yêu cầu khởi kiện của gia đình ông X bà H là không có cơ sở nên gia đình ông S và bà T1 không chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Ngọc T2 và anh Nguyễn Hải L thống nhất trình bày: Năm 2003 gia đình anh chị gồm: ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H, chị Nguyễn Ngọc T2 và anh Nguyễn Hải L đã nhận chuyển nhượng 10.600m²đất rừng và đất ao nằm trong diện tích 68.000m² tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số F48103Ad2 tại Đồi Đ ở Khu F xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ của gia đình ông Nguyễn Văn N và vợ là bà Nguyễn Thị Đ với giá là 3.000.000đồng. Gia đình anh chị đã thanh toán cho Bà Đ và các con bà Đ đủ số tiền 3.000.000đồng, bà Đ cũng đã bàn giao đất cho gia đình anh chị để sử dụng. Sau khi được bàn giao đất gia đình anh chị đã thường xuyên đi lại, chăm sóc cây trồng trên đất, thuê máy móc sửa sang lại khu ao, xây dựng lại cống thoát nước, làm đường đi lại. Năm 2011 đã dựng 01 căn nhà tạm bằng gỗ để ở trông nom và chăm sóc cây trồng, ao cá; thời gian từ năm 2011 đến 2012 gia đình anh chị đã trồng và thu hoạch sắn trên khu đất, sau đó lại tiếp tục trồng các cây xoan, keo trên toàn bộ khu đất. Ngày 30/3/2012 gia đình anh chị đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 522677, thửa số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2, diện tích 10.600m² tại Khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ đứng tên hộ ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H. Tuy nhiên, mấy năm gần đây ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 đã trồng cây trái phép trên một phần diện tích 10.600m² đất nhà ông X bà H. Cụ thể đã trồng cây bạch đàn trên toàn bộ phần đất giáp ao và giáp lối vào khu đất cạnh ao khoảng 1.000m². Nay chị T2 và anh L đề nghị Tòa án buộc gia đình ông S và bà T1 phải trả lại toàn bộ đất đã lấn chiếm của gia đình ông X, bà H.

Bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn N Năm 2000 gia đình bà được cấp GCNQSD đất số H000115, thửa số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2, diện tích 68.000m2 tại xóm G, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ, cấp ngày 13/10/2000, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn N. Năm 2003 gia đình bà đã bán bớt một phần diện tích đất gồm đất rừng và đất ao là 10.600m² cho vợ chồng ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H với giá là 3.000.000đ. Sau khi mua bán đất hai bên đã thanh toán đủ tiền và bàn giao đất cho nhau. Đến nay gia đình bà cam kết không có tranh chấp gì liên quan đến diện tích đất đã chuyển nhượng nêu trên cho ông X bà H. Tại thời điểm mua bán đất thì hai bên đã lập giấy viết tay với nhau. Ngày 17/5/2022 bà Đ cùng các con bà là Nguyễn Tiến N1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thị N4, Nguyễn Thị N5 và ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H đã lập thêm 01 Giấy xác nhận về việc mua bán đất cùng với nội dung là: Gia đình bà Đ đã bán cho ông X bà H diện tích đất rừng và đất ao là 10.600m² với giá là 3.000.000đ. Hai bên đã thanh toán đủ tiền và bàn giao đất cho nhau; gia đình bà Đ không có bất kì khiếu nại hay khởi kiện tranh chấp gì liên quan đến diện tích đất đã bán cho ông X, bà H. Bà Đ xác định các chữ ký, chữ viết cùng dấu vân tay đã điểm chỉ trong “Giấy xác nhận về việc mua bán đất” lập ngày 17/5/2022 mà bà H cung cấp cho Tòa án đều đúng là chữ ký, chữ viết cùng dấu vân tay điểm chỉ của bà Nguyễn Thị Đ cùng các con bà là anh Nguyễn Tiến N1, chị Nguyễn Thị N2, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị N3, anh Nguyễn Văn T3, chị Nguyễn Thị N4, chị Nguyễn Thị N5, bà cùng các con đã ký, điểm chỉ là hoàn toàn tự nguyện.

Bà Nguyễn Thị S1 trình bày: Bà S1 là chị gái ruột của ông Nguyễn Văn X và ông Nguyễn Văn S. Theo bà biết gia đình ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H đã mua thửa đất đồi rừng có ao của gia đình ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Đ ở khu F xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khoảng năm 2012 đến 2013 vợ chồng ông X bà H đã nhờ bà đến ở trông coi đất, chăm sóc cây trồng và ao cá, bà đồng ý, sau đó bà đã chuyển đến sinh sống tại thửa đất này cho đến đầu năm 2022, trên đất đã dựng 01 ngôi nhà tạm bằng gỗ, nên bà đã ở tại căn nhà gỗ này, thời gian đó ông X bà H đã trồng cây sắn trên đất và ao đã nuôi thả cá, bà xác định thửa đất này đã được ông X, bà H san gạt trước đó và có nhờ bà trồng cây Xoan trên đất, rồi lại tiếp tục trồng cây Keo; ngoài ra ông X bà H đã san gạt và mở rộng đường đi vào khu đất giáp với ao cá. Đối với ngôi nhà gỗ sau khi bà không sinh sống tại đó thì ngôi nhà đã bị đổ hiện nay không còn nữa. Đến đầu năm 2022 thì do bà bận công việc gia đình nên bà không sinh sống tại thửa đất này nữa. Đối với diện tích đất tranh chấp giữa gia đình ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H với gia đình ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Như T1 thì bà không biết là đất của ai.

Biên bản xác minh ngày 06/5/2024 ông Nguyễn Đình C – Phó chủ tịch UBND xã G, huyện T cung cấp như sau: Thửa đất số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2 của gia đình ông X, bà H nhận chuyển nhượng của ông N, bà Đ có diện tích là 10.600m2 tại khu 6 xã G, huyện T. Đến năm 2015 khi lập bản đồ số thửa đất số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2 (Nay là thửa đất số 40 và thửa số 41, tờ bản đồ số 33) trong đó thửa đất số 40 có hiện trạng nổi trên cao, thửa đất số 41 có hiện trạng trũng thấp và bị ngập nước). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2 (Nay là thửa đất số 40 và thửa đất số 41, tờ bản đồ số 33) có diện tích là 10.600m². Tuy nhiên diện tích đo đạc thực tế theo biên bản thẩm định tại chỗ là có diện tích là 10.592,2m² (Thiếu 7,8m²). Nguyên nhân có sự chênh lệch diện tích này là do sai số khi đo đạc. Quan điểm của UBND xã G đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên đương sự.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H. Buộc ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Như T1 phải di dời toàn bộ cây trồng nằm trong diện tích 10.600 m² đất của nguyên đơn và trả lại diện tích đất 1.226.8m² đang lấn chiếm.

Ông Bùi Đức D người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng đã gửi bản luận cứ cho Tòa án ngày 13/5/2024 có quan điểm như sau: Đề nghị HĐXX chấp nhận quan điểm của Luật sư đưa ra tại phiên tòa bảo vệ quyền và lợi ích cho bố mẹ anh L.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn đã: Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm c Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 157, Điều 165; Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 163, Điều 164, Điều 357 - Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ: Khoản 5 Điều 166, Khoản 1 Điều 167, Khoản 1 Điều 203 - Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H.

  1. Buộc ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 trả lại cho hộ ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H diện tích đất đang lấn chiếm là 1.226,8m² đất theo các chỉ giới từ 59, 60, 61.... đến 76, 25, 26 .... 33, 85, 86, 96, 59 tại khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo GCNQSD đất đứng tên ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H (có bản trích đo kèm theo).
  2. Giao cho ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H được quản lý, sử dụng 11 cây bạch đàn chồi đường kính trung bình là 13cm; 01 cây xoan có đường kính 8cm; 20 gốc cây bạch đàn có đường kính trung bình là 13cm trên gốc cây có các thân chồi mới mọc có đường kính trung bình là 1cm; 13 thân cây bạch đàn chồi có đường kính trung bình là 7 cm trồng trên diện tích đất 1.226,8m², thửa đất số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2 (Nay là thửa đất số 40 và thửa số 41, tờ bản đồ số 33) tại khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 toàn bộ trị giá cây trồng trên diện tích 1.226,8m² đất số tiền là 722.000₫ (Bảy trăm hai mươi hai ngàn đồng).

  1. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H số tiền là 6.314.000₫ (Sáu triệu ba trăm mười bốn nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 phải chịu 7.396.900đồng (Bảy triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0007018 ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền trên thì ngoài số tiền phải trả, người phải thi hành án còn phải trả lãi cho đến khi thi hành án xong đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  1. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án. Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Ngoài ra Bản án còn tuyên các vấn đề khác theo đúng quy định của pháp luật.

Kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số132/QĐ-VKS-DS ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Kháng nghị một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm theo hướng sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí và xác định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không có quyền kháng cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định kháng nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm của bị đơn và tuyên về quyền kháng cáo của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy:
  • [2.1]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H là có cơ sở. Tuy nhiên, về nghĩa vụ chịu án phí, Toà án buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Như T1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch với số tiền là 7.396.900₫ (Bảy triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm đồng) là chưa đúng quy định của pháp luật bởi lẽ:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H khởi kiện đề nghị Toà án buộc ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 trả lại cho ông bà phần đất đã lấn chiếm có diện tích là 1.226,8m và di dời số cây đã trồng trên đất.

Trong phần Quyết định của Bản án, Toà án cũng chỉ tuyên: “Buộc ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 trả lại cho hộ ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H diện tích đất đang lấn chiếm là 1.226,8m đất...”. Như vậy, trường hợp này, Toà án chỉ xem xét và quyết định về quyền sử dụng đất của ai. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, trường hợp này ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch tại điểm a khoản 2 Điều 27 (Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong một số loại việc cụ thể) Nghị quyết 326 quy định:

"1...

2. Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:

a) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Toà án không xem xét giá trị, chỉ xem xét quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch”.

Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc ông S, bà T1 phải chịu án phí có giá ngạch 7.396.900₫ là không đúng. Việc Toà án định giá tài sản là quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp thì đương sự đã phải chịu chi phí tố tụng, không ảnh hưởng đến nghĩa vụ chịu án phí của đương sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch là không đúng quy định.Vậy nên, cần buộc bị đơn phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm là đúng theo quy định.

  • [2.2]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về tuyên quyền kháng cáo của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn tuyên về quyền kháng cáo của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đúng. Cụ thể:

Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024 ngày 15/5//2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xác định ông Nguyễn Xuân V, bà Nguyễn Thị Thanh P và ông Nguyễn Trường T là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Ông Bùi Đức D là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn tuyên những người này có quyền kháng cáo Bản án là không đúng quy định tại khoản 6 Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 76. Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

“1. Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự.

2. Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.

3. Tham gia việc hoà giải, phiên họp, phiên toà hoặc trường hợp không tham gia thì gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Toà án xem xét.

4. Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự uỷ quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Toà án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự.

6. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 của Bộ luật này.

7. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật quy định”.

Như vậy, theo quy định nêu trên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự không có quyền kháng cáo.

Từ mục [2.1], [2.2] nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn theo hướng đã phân tích ở trên.

[3]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5]. Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 165; khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 163, Điều 164, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ: khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H.

  1. Buộc ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 trả lại cho hộ ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H diện tích đất đang lấn chiếm là 1.226,8m² đất theo các chỉ giới từ 59, 60, 61.... đến 76, 25, 26 .... 33, 85, 86, 96, 59 tại khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo GCNQSD đất đứng tên ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H (có bản trích đo kèm theo).
  2. Giao cho ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H được quản lý, sử dụng 11 cây bạch đàn chồi đường kính trung bình là 13cm; 01 cây xoan có đường kính 8cm; 20 gốc cây bạch đàn có đường kính trung bình là 13cm trên gốc cây có các thân chồi mới mọc có đường kính trung bình là 1cm; 13 thân cây bạch đàn chồi có đường kính trung bình là 7 cm trồng trên diện tích đất 1.226,8m², thửa đất số 54-2, tờ bản đồ số F48.103.Ad2 (Nay là thửa đất số 40 và thửa số 41, tờ bản đồ số 33) tại khu F, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 toàn bộ trị giá cây trồng trên diện tích 1.226,8m² đất số tiền là 722.000₫ (Bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng).

  1. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn X và bà Hà Thị Bích H số tiền là 6.314.000₫ (Sáu triệu ba trăm mười bốn nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.
  2. Về án phí :

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn S, bà Trần Thị Như T1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Nguyễn Văn X, bà Hà Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0007018 ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí theo quy định.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền trên thì ngoài số tiền phải trả, người phải thi hành án còn phải trả lãi cho đến khi thi hành án xong đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  1. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - TAND huyện Thanh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/DS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 59/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án TC quyền sử dụng đất giữa ông X và ông S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger