|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/8/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Duẩn.
Ông Trần Minh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 67/2024/QĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; HKTT: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H: Anh Phạm Hoàng H1, sinh năm 1991 và ông Trần Hồng M, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A, đường P, M, Hà Nội (xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Ngô Văn D, sinh năm 1991, HKTT: Thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Nhật Bản (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Ngô Văn D trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn với nhau ngày 11/4/2018 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó chị và anh D về nhà mẹ đẻ chị chung sống. Trong khoảng thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hôn nhân không hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh D đã bỏ về nhà tại thôn L, xã V. Khi chị H sinh con chung là cháu M1 thì anh D không quan tâm, hỏi han đến con cái. Mọi vấn đề trong gia đình đều do chị H lo toan, gánh vác. Đến nay chị H và anh D ly thân đã được 06 năm. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật M2, sinh ngày 13/12/2018. Khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao cháu M2 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, công nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Ngô Văn D hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản nên Hội đồng xét xử không tiến hành lấy lời khai được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Phạm Thị V là mẹ đẻ của anh D thì được bà trình bày như sau: Hiện nay, anh D đang lao động tại Nhật Bản. Về địa chỉ cụ thể của anh D tại Nhật Bản thì bà không biết nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh D đã biết chị H đang làm thủ tục xin ly hôn với anh tại Tòa án, bà không biết anh D có đồng ý ly hôn với chị H hay không. Anh D có nhờ bà đưa căn cước công dân và hộ khẩu của anh D cho chị H để chị H làm thủ tục ly hôn tại Tòa án ở Việt Nam.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật M2, sinh ngày 13/12/2018. Anh D có truyền đạt rằng hiện nay cháu M2 còn ít tuổi nên để mẹ nuôi dưỡng cho tình cảm. Sau này nếu chị H có đi lấy chồng khác thì trả lại quyền nuôi dưỡng cháu M2 cho anh D. Cấp dưỡng không đề giải xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Anh D không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bà V đồng ý nhận thay các văn bản của Tòa án và cam kết thông báo cho anh D được biết.
Bị đơn hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản nên Hội đồng xét xử không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Ngô Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Trong phần tranh luận, Luật sư Trần Hồng M và Luật sư Phạm Hoàng H1 vắng mặt nhưng gửi bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ngô Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị cho chị H được ly hôn anh D. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được nuôi cháu Nguyễn Nhật M2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của các đương sự theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 266, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Ngô Văn D.
Về con chung: Giao 01 con chung là Nguyễn Nhật M2, sinh ngày 13/12/2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn D. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, anh Ngô Văn D có hộ khẩu thường trú tại Thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; tại thời điểm thụ lý vụ án anh Ngô Văn D đang lao động tại Nhật Bản. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về thời gian xuất nhập cảnh tại Cục Q - Bộ C được biết, anh Ngô Văn D đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 06/11/2019 qua cửa khẩu N và hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Do đó, ngày 30/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật.
Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Do anh Ngô Văn D đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Phạm Thị V là mẹ đẻ của anh D về việc cung cấp địa chỉ cụ thể của anh D tại Nhật Bản nhưng bà V không cung cấp được cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D thông qua bà V và được bà cam kết thông báo lại cho anh D nội dung các văn bản tố tụng. Anh D biết việc chị H khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án. Do vậy, cần xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị H và anh D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đã đăng kí kết hôn ngày 11/4/2018 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh nên đảm bảo điều kiện kết hôn theo luật định. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị H và anh D là hợp pháp.
Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, cuộc sống không thể hòa hợp. Vợ chồng đã ly thân 06 năm. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh D.
Do không lấy được lời khai của anh D, nhưng căn cứ vào lời trình bày của bà V là mẹ đẻ của anh D thì biết anh D đã biết việc chị H xin ly hôn. Anh D tuy không trình bày quan điểm có đồng ý ly hôn hay không nhưng anh D nhờ bà V tạo điều kiện cho chị H làm thủ tục xin ly hôn với anh bằng việc cung cấp Căn cước công dân và hộ khẩu cho chị H.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh D là có thực, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, đủ điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Ngô Văn D.
[2.2]. Về con chung:
Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật M2, sinh ngày 13/12/2018. Hiện nay cháu M2 đang ở cùng chị H. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao cháu M2 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qua làm việc với bà V là mẹ đẻ của anh D được biết, anh D có truyền đạt, do cháu M2 còn ít tuổi nên để chị H nuôi dưỡng cháu M2. Hiện nay, anh D đang lao động tại nước ngoài và cháu M2 đang do chị H nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Nhật M2 cho chị H nuôi dưỡng để tránh xáo trộn môi trường sinh hoạt, học tập của cháu là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng con, do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung:
Chị H và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Ngô Văn D.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật M2, sinh ngày 13/12/2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 8/2024 cho đến khi cháu M2 đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh D được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001360 ngày 05/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tính |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Minh phương - Mai Văn Duẩn |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tính |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
