TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/DS-ST Ngày: 18-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tuấn
Bà Trịnh Thị Lệ Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N
Địa chỉ trụ sở: Số B C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đăng Dờng K' H, sinh năm 1994; Chức vụ: Nhân viên xử lý nợ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q và khai thác tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần N
Địa chỉ: Lầu F số D đường L, phường H, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Châu T1, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp D, xã H, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn G, sinh năm 1971
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2021 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (N1) do ông Đăng D K' Hưng đại diện trình bày: Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N và bà Nguyễn Thị Châu T1 có ký hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0269/2018/925-CV ngày 29/11/2018 và Giấy nhận nợ số 01/GNN-0269/2018/925-CV ngày 29/11/2018 để cấp tín dụng cho bà T1 số tiền vay 1.000.00.000.000₫ (Một tỷ đồng), với lãi suất trong hạn 12.5%/năm, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phạt chậm trả lãi 10%/năm, thời hạn vay 180 tháng tính từ ngày 29/11/2018 đến ngày 29/11/2033.
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng N – Chi nhánh T2 - Phòng G1 và bà Nguyễn Thị Châu T1 có ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 0109/2018/925-BĐ ngày 29/11/2018, theo đó bà T1 dùng tài sản là quyền sử dụng đất thửa số 571, tờ bản đồ số 36, diện tích 1343m², loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00804 do UBND huyện T, tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị Châu T1 vào ngày 09/3/2012 để thế chấp cho Ngân hàng N, hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C và có đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định.
Trong quá trình vay nợ, bà T1 thanh toán được số tiền 16.668.000 đồng nợ gốc sau đó không tiếp tục thanh toán theo kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng N đã nhiều lần đôn đốc tạo điều kiện để bà T1 trả nợ nhưng bà T1 trốn tránh không thực hiện.
Nay Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bà T1 có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc là 983.332.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 987.753.858 đồng. Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.962.085.858 đồng. Đồng thời yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo Ngân hàng thu hồi nợ.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/3/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn G trình bày: Ông hiện là người đang canh tác và trồng tràm trên thửa đất số 571, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.343m² tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Ông biết được thửa đất trên do bà T1 đứng tên quyền sử dụng, việc bà T1 vay tiền và thế chấp thửa đất trên cho Ngân hàng N. Việc Ngân hàng N khởi kiện bà T1 bà yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nếu bà T1 không trả được nợ vay ông hoàn toàn không có ý kiến gì.
Trong trường hợp có kê biên phát mãi quyền sử dụng đất thửa 571, ông đồng ý giao trả hiện trạng của thửa đất trên và sẽ thu hoạch tràm đang trồng trên đất khi có bản án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ giấy nhận nợ, hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần và hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng TMCP N với bà T1 có chữ ký bà T1 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác định ngày 29/11/2018 bà Nguyễn Thị Châu T1 có ký hợp đồng tín dụng vay Ngân hàng N số tiền 1.000.000.000 đồng và thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 571, tờ bản đồ số 36, diện tích 1343m², loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An để đảm bảo cho số nợ vay. Sau khi vay bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, hiện nay bà T1 còn nợ gốc và lãi Ngân hàng N là 1.962.085.858 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466, 317, 318 và 324 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số nợ vay và tài sản thế chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có đơn khởi kiện tranh chấp đối với bà Nguyễn Thị Châu T1 về yêu cầu trả số nợ vay trong hợp đồng tín dụng, yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp. Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về vắng mặt của người tham gia tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, bị đơn đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ vay: Theo Hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0269/2018/925-CV ngày 29/11/2018 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào ngày 29 tháng 11 năm 2018, bà Nguyễn Thị Châu T1 có vay Ngân hàng N – Chi nhánh T2 - Phòng G1 số tiền 1.000.000.000 đồng. Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, lãi suất vay là 12,5%/năm (lãi suất sẽ do Ngân hàng quyết định điều chỉnh 03 tháng/lần), thời hạn vay là 180 tháng (trả nợ gốc và lãi được chia thành nhiều kỳ và được trả theo giấy nhận nợ, lịch trả nợ và văn bản thỏa thuận khác), mục đích vay là mua bất động sản.
Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bà T1 thanh toán cho Ngân hàng N số nợ gốc là 16.668.000 đồng sau đó ngưng không tiếp tục trả theo kỳ hạn đã thỏa thuận. Ngân hàng N nhiều lần nhắc nhở, thông báo nợ quá hạn nhưng bà T1 không thực hiện.
Tính đến ngày 18/6/2024 bà T1 còn nợ Ngân hàng N nợ gốc là 983.332.000 đồng và nợ lãi là 978.753.858 đồng.
Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định cho bà T1 thể hiện việc Ngân hàng N khởi kiện nhưng bà T1 vắng mặt và không có ý kiến, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng N.
Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N là có căn cứ, buộc bà T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N nợ vay gốc là 983.332.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 978.753.858 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 1.962.085.858 đồng, theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng, ngày 29/11/2018 bà Nguyễn Thị Châu T1 đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản 0109/2018/925-BĐ với Ngân hàng N – Chi nhánh T2 - Phòng G1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 571, tờ bản đồ số 36, diện tích 1343m², loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00804 do UBND huyện T, tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị Châu T1 vào ngày 09/3/2012. Hợp đồng thế chấp được Văn phòng C vào ngày 29/11/2018 và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T vào ngày 29/11/2018, trình tự, thủ tục đúng theo quy định của pháp luật nên hợp pháp.
Do đó, yêu cầu của Ngân hàng N về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho Ngân hàng thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
[3] Phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản là có căn cứ.
[4] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Châu T1 có nghĩa vụ chịu 10.000.000 đồng. Ngân hàng N đã nộp tạm ứng số tiền trên. Do đó, bà T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 10.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Bà T1 chịu 70.862.576 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 470 và Điều 299, Điều 317, Điều 318 và Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N (N2) về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản đối với bà Nguyễn Thị Châu T1.
- Về số nợ vay: Buộc bà Nguyễn Thị Châu T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số nợ vay gốc là 983.332.000đ (chín trăm tám mươi ba triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn đồng) và lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 978.753.858₫ (chín trăm bảy mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi tám đồng). Tổng cộng gốc và lãi là 1.962.085.858đ (một tỷ, chín trăm sáu mươi hai triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm năm mươi tám đồng).
Kể từ ngày 19/6/2024, bà Nguyễn Thị Châu T1 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần N cho đến khi thi hành xong số nợ gốc trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về tài sản thế chấp: Tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp số 0109/2018/925-BĐ ngày 29/11/2018 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh T2 - Phòng G1 với bà Nguyễn Thị Châu T1, cụ thể:
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Châu T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất thửa số 571, tờ bản đồ số 36, diện tích 1343m², loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00804 do UBND huyện T, tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị Châu T1 vào ngày 09/3/2012 để đảm bảo cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N thu hồi nợ.
- Về số nợ vay: Buộc bà Nguyễn Thị Châu T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số nợ vay gốc là 983.332.000đ (chín trăm tám mươi ba triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn đồng) và lãi tính đến ngày 18/6/2024 là 978.753.858₫ (chín trăm bảy mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi tám đồng). Tổng cộng gốc và lãi là 1.962.085.858đ (một tỷ, chín trăm sáu mươi hai triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm năm mươi tám đồng).
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Châu T1 phải chịu 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã nộp tạm ứng số tiền trên nên bà Nguyễn Thị Châu T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Châu T1 chịu 70.862.576 đồng (bảy mươi triệu, tám trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm bảy mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.044.996đ (hai mươi sáu triệu, không trăm bốn mươi bốn nghìn, chín trăm chín mươi sáu đồng) theo biên lai thu số 0001049 ngày 28/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND Tỉnh LA; - VKSND TPTA; - Các đương sự; - CCTHA; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Hằng |
Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 59/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Nan Á "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Thị Châu Thi
