|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS- ST Ngày: 17-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Sơn.
- Bà Nguyễn Thị Mến.
-Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng- Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2024, tại phòng xử án- Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS, ngày 12/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024, đối với bị cáo:
Đỗ Công H, sinh năm 1993, tại: Bình Thuận
Nơi cư trú: Thôn 2B, xã Đông Hà, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Mạnh H1 và bà Phạm Thị Trần N; có vợ tên Nguyễn Thị Nhật L; có 01 con sinh năm 2018; tiền án: Ngày 23/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 19/10/2022. Tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2014 bị xử phạt 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt ngày 29/4/2016. Năm 2018 bị xử phạt 09 tháng tù về tội hủy hoại tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 14/3/2019; khi chưa được xóa án tích thì ngày 12/2/2021 tiếp tục thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, với giá trị tài sản bị thiệt hại 288.000 đồng, nên ngày 23/11/2021 bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản, với tình tiết định tội đã được kết án về tội này, nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; bị bắt tạm giam ngày 28/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt.
-Bị hại: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1989
Trú tại: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 5/3/2023, Trần Ngọc T, sinh năm 1989, ở xã T, huyện Đ đến quán K ở thôn Đ, xã Đ hát Karaoke với một số bạn. Trong lúc hát nhóm của T có cãi vã với nhóm Lê Hoàng T1, sinh năm 2000, ở xã Đ, huyện Đ. Cả hai nhóm ra ngoài sân cãi nhau. Trong thời gian này Đỗ Công H, sinh năm 1993, ở thôn B, xã Đ đang ngồi nhậu tại nhà với Lương Quý T2, sinh năm 1995 ở cùng thôn. H nghe điện thoại của một người trong nhóm của T1 gọi, nói: T1 bị đánh ở quán K. Nghe điện thoại xong, H cầm con dao Thái Lan ở bàn nhậu bỏ vào túi quần và nói T2 chở H đến quán K. Khi đến cổng quán K1 dừng xe. H nhìn thấy T đứng trước sân quán, nên cầm dao chạy đến chém nhiều cái vào người T; T đưa tay lên đỡ, dao trúng vào tay, vào trán. Được nhiều người can ngăn, T bỏ chạy ra trước cổng quán, H cầm dao đuổi theo chém nhiều cái, trúng vào tay, vào mặt của T. Sau đó được mọi người can ngăn. T được đưa đi cấp cứu, H được bạn là Chu Nguyễn Thanh H2 chở về nhà, trên đường về nhà H2 ném con dao xuống suối C thuộc xã Đ. Tại Cơ quan Điều tra H2 khai nhận hành vi trên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 444/KLTTCT-TTGĐPYBT, ngày 19/7/2023 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh B, kết luận thương tích của Trần Ngọc T như sau: Vết thương phần mềm vùng trán đã được điều trị, để lại sẹo kích thước 1cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%. Vết thương vùng mũi má trái, dò tuyến nước bọt đã được điều trị, hiện ổn định, để lại sẹo lành kích thước 8cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 6% + 5%. Vết thương phần mềm vùng vai- cánh tay phải đã được điều trị, hiện để sẹo lành kích thước 1,5cm x 0,3cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%. Vết thương phần mềm đốt 2 mặt lòng ngón 3 bàn tay phải đã được điều trị, hiện sẹo lành kích thước 1,2cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%. Vết thương phần mềm đốt 3 mặt lòng ngón 4 bàn tay phải đã được điều trị, hiện sẹo lành kích thước 1,2cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%. Vết thương phần mềm mu đầu gần ngón 5 bàn tay phải đã được điều trị, hiện sẹo lành kích thước 3,7cm x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%. Vết xước da nông mặt lòng đốt 1 ngón 1 bàn tay trái (không phải đốt 2 ngón 1 bàn tay trái) đã được điều trị, hiện sẹo lành kích thước 2cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%. Sừng nề vùng mặt bên trái, há miệng hạn chế, bầm mi mắt trái, hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Các vết thương, vết xước da do vật sắc gây ra. Các vết thương vùng trán, mũi, má bên trái có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau. Các vết thương vai- cánh tay phải, bàn tay phải- trái có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Quá trình điều tra, H2 khai dùng 01 con dao Thái Lan dài khoảng 30cm, lưỡi dao dài khoảng 20cm, rộng khoảng 03cm, mũi nhọn, cán màu đen bằng nhựa, sau khi gây thương tích cho T xong, H2 ném dao xuống suối C, thuộc thôn B, xã Đ, nhưng không truy tìm được.
Vật thu giữ tại hiện trường: 01 tấm ván gỗ kích thước 0,75m x 0,25m, 01 viên bê tông, 01 đoạn cây khô dài 2,02m, đường kính đầu lớn 0,19cm, đường kính đầu nhỏ 0,15cm; các vật này không liên quan đến vụ án.
Về thiệt hại dân sự: Trần Ngọc T không yêu cầu Đỗ Công H bồi thường. Đối với hành vi của Lương Quý T2 chở H từ nhà đến quán K. Quá trình điều tra chưa xác định T2 có đồng phạm trong vụ án này không. Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm T2 để điều tra làm rõ.
Theo Cáo trạng số 55/CT-VKSÐL-HS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Đỗ Công H ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, giữ nguyên Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo;
-Phạt bị cáo Đỗ Công H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Tịch thu vật chứng tiêu hủy.
Bị cáo H: Không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người làm chứng. Tuy nhiên lời khai của của họ đã có trong hồ sơ, việc vắng mặt của bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, nên xét xử vắng mặt, theo Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo nhận tội theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Căn cứ vào kết luận giám định về tổn thương cơ thể của bị hại là 18%; cơ chế, vật gây ra thương tích cho bị hại là dùng vật sắc, nhọn, tác động theo hướng từ trước ra sau và theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương. Các dấu hiệu khách quan này đều phù hợp với lời khai của bị cáo là dùng dao Thái Lan, đứng đối diện với bị hại, đâm nhiều cái vào người của bị hại. Từ đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 5/3/2023, tại sân quán K, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, có nhóm thanh niên của Trần Ngọc T cãi vã với nhóm thanh niên của Lê Hoàng T1, khi đến hát Karaoke. Lúc này Đỗ Công H, sinh năm 1993 đang uống rượu với Lương Quý T2 tại nhà trọ ở thôn B, xã Đ, thì có người gọi điện cho H nói rằng: T1 bị đánh ở quán K. Nghe vậy, H lấy 01 con dao Thái Lan mũi nhọn bỏ vào túi quần, rồi nhờ T2 chở đến quá Karaoke Light. Khi đến cổng quán K, bị cáo xuống xe nhìn thấy Trần Ngọc T đứng trước sân, thì lấy dao ra chạy đến chém (đâm) T nhiều cái vào người, T đưa tay lên đở, thì bị lưỡi dao trúng vào tay, vào trán; được nhiều người can ngăn. T bỏ chạy ra trước cổng, H cầm dao đuổi theo chém trúng vào vùng mặt, tay của T. Hậu quả là T bị thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Bị cáo đã dùng dao nhọn, sắc là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho nạn nhân; giữa nạn nhân và bị cáo không có mâu thuẩn, nhưng bị cáo lại vô cớ đâm, chém nạn nhân. Do vậy, truy tố, xét xử bị cáo về tội: cố ý gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, nhưng thuộc trường hợp định khung tăng nặng: Dùng hung khí nguy hiểm (dao sắc, nhọn) và có tính chất côn đồ; Điều luật và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện: Hành vi của bị cáo xâm phạm sức khỏe con người là một trong những khách thể được pháp luật bảo vệ, bất khả xâm phạm; ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần thiết phải có mức án nghiêm khắc để cải tạo bị cáo.
[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo khai báo thành khẩn. Trong lần phạm tôi này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, vì ngày 23/11/2021 bị cáo đã bị kết án 01 năm 03 tháng tù về tội hủy hoại tài sản, chấp hành xong hình phạt vào ngày 29/10/2022, đến ngày 5/3/2023 khi chưa được xóa án tích, bị cáo lại phạm tội mới do cố ý, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5] Những đồ vật trong vụ án: 01 tấm ván gỗ kích thước 0,75m x 0,25m; 01 viên bê tông xi măng kích thước 0,16m x 0,13m; 01 đoạn cây khô dài 2,02m, đường kính đầu nhỏ 0,15cm, đường kính đầu lớn 0,19cm đây là những vật không phải là vật chứng, không có giá trị. Do đó cần tịch thu tiêu hủy theo như điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Thiệt hại về sức khỏe của Trần Ngọc T là do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, nhưng ông T không yêu cầu bị cáo bồi thường. Xét thấy đây là sự tự nguyện của ông T và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.
[7] Đối với Lương Quý T2 là người chở bị cáo đến nơi thực hiện hành vi phạm tôi, nhưng chưa xác định là T2 có đồng phạm hay không, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý theo pháp luật.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp và có căn cứ.
[9] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Kể từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm cho đến khi ban hành kết luận điều tra, Điều tra viên thực hiện hành vi tố tụng, ban hành các văn bản tố tụng đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và đúng trình tự. Đối với Kiểm sát viên trong quá trình giám sát các hoạt động ở giai đoạn tin báo về tội phạm, điều tra thực hiện đúng thẩm quyền. Trong giai đoạn truy tố Kiểm sát viên tiến hành hoạt động tố tụng đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố không có sự khiếu nại gì.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Bị cáo bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án, theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, 293, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
- Tuyên bố: Đỗ Công H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm ván gỗ kích thước 0,75m x 0,25m; 01 viên bê tông xi măng kích thước 0,16m x 0,13m; 01 đoạn cây khô dài 2,02m, đường kính đầu nhỏ 0,15cm, đường kính đầu lớn 0,19cm, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/8/2024.
- Về án phí: Đỗ Công H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/9/2024), bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niên yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Phạt bị cáo Đỗ Công H 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt người đang bị truy nã là ngày 28/6/2024.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.MHỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Văn Thái |
Bản án số 59/2024/HS- ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 59/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẩn khi hát Karaoke, Đỗ Công H dùng dao Thái Lan gây thương tích cho người khác.
