|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/DS-ST Ngày: 17/4/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Đăng Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng
Ông Trần Trung Úy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 185/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST - DS ngày 08 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST- DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A1(viết tắt là A2); Địa chỉ: Tầng A, 2, 3 tòa Gelemimco, số C H, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Mạnh K – chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Q - chức vụ: Trưởng ban xử lý nợ; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: anh Lê Xuân T, chức vụ: Nhân viên xử lý nợ theo giấy ủy quyền số 457/UQ – TGĐ.23 ngày 25/7/2023 (có mặt)
- Bị đơn:
- Ông Lê Đình C, sinh năm 1976, Vắng mặt;
- Bà Đào Thị L, sinh năm 1981 (vợ ông C), Vắng mặt.
Cùng cư trú: Thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị H, sinh năm 1954 (mẹ ông C); Vắng mặt
- Chị Lê Thị Lan H1, sinh năm 2001 (con ông C – bà L); Vắng mặt;
- Anh Lê Quang T1, sinh năm 2005 (con ông C – bà L), Vắng mặt;
- Chị Lê Thị S, sinh năm 2008 (con ông C – bà L), Vắng mặt;
- Cháu Lê Gia A, sinh năm 2013 (con ông C – bà L), Vắng mặt.
Cùng cư trú: Thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của cháu S, cháu A: ông Lê Đình C, bà Đào Thị L – bố mẹ đẻ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
1.1. Về nội dung của Hợp đồng cho vay từng lần số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 20/02/2021; Giấy nhận nợ số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 12/03/2021 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A2 VISA (Dành cho khách hàng cá nhân) hợp đồng số 2607/TTD-MĐ ngày 26/07/2021:
Ngân hàng TMCP A1 – Chi nhánh H2 – Phòng G (sau đây viết tắt là A2 và ông Lê Đình C, bà Đào Thị L đã ký các hợp đồng tín dụng để vay vốn ngân hàng cụ thể:
1.1.1. Theo Hợp đồng cho vay từng lần số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 20/02/2021; Giấy nhận nợ số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 12/03/2021, cụ thể:
- - Số tiền vay: 520.000.000 đồng;
- - Mục đích vay: Vay tiêu dùng mua đồ nội thất cho nhà ở tại địa chỉ P, T, C, Hà Nội;
- - Thời hạn vay: từ ngày 12/3/2021 đến ngày 13/3/2031.
- - Lãi suất cho vay: Trong 12 tháng đầu: 6,9%/năm theo chương trình Vay ưu đãi, lãi an tâm. Thời điểm thay đổi lãi suất: Tần suất thay đổi lãi suất: 03 tháng/lần, kể từ thời điểm sau ưu đãi.
Nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh: Từ tháng thứ 13 đến tháng thứ 36: Lãi suất cơ sở tại thời kỳ đổi lãi tương ứng (%/năm) + biên độ 3,4%/năm. Từ tháng thứ 37 trở đi: Lãi suất cơ sở tại thời kỳ đổi lãi tương ứng (%/năm) + biên độ 3,9%/năm.
Phương thức trả nợ:
- + Trả nợ gốc: định kỳ háng tháng vào ngày 15 hàng tháng, ngày trả nợ gốc đầu tiên 15/4/2021. Số nợ gốc bên vay phải trả ch mỗi kỳ trả nợ: 4.335.000 VNĐ; số nợ gốc bên vay phải trả của kỳ trả nợ cuối cùng: 4.135.000 VNĐ.
- + Trả lãi: định kỳ hàng tháng vào ngày 15 hàng tháng, ngày trả nợ lãi lần đầu tiên 15/4/2021.
Thực hiện đúng hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, A2 đã giải ngân đủ số tiền 520.000.000 VNĐ cho ông C, bà L theo ủy nhiệm chi.
1.1.2. Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A2 VISA (Dành cho khách hàng cá nhân) hợp đồng số 2607/TTD-MĐ ngày 26/07/2021, cụ thể như sau:
- - Hạn mức thẻ: 50.000.000 VNĐ
- - Dư nợ thẻ tín dụng A2 VISA tính đến ngày 25/07/2023 là: 35.576.062 đồng.
1.2. Tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho khoản vay trên của vợ chồng ông Lê Đình C và bà Đào Thị L tại ngân hàng thì ông Lê Đình C, bà Đào Thị L đã thế chấp tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 459403, Vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất số 400 QSDĐ/453QĐ/UB do UBND huyện C, tỉnh Hà Tây (Nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 30/12/2001 cho Hộ ông Lê Đình C1. Ngày 10/10/2020 đăng ký sang tên cho ông Lê Đình C
Nội dung thế chấp được quy định Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 930.2021, Quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/02/2021 tại địa chỉ Ngân hàng TMCP A1 - chi nhánh H2 – Phòng giao dịch M, Kiot C, tâng 1, chung cư C, khu đô thị M, phường C, quận N, Thành phố Hà Nội có sự chứng thực của Văn phòng C3 – Thành phố Hà Nội.
Tài sản bảo đảm nêu trên được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật tại Văn phòng Đ – chi nhánh huyện C ngày 09/3/2021.
1.3. Quá trình thực hiện hợp đồng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 17/4/2024, ông C, bà L chỉ trả được A2 theo hợp đồng tín dụng tổng số tiền là: 157.583.995 đồng; trong đó nợ gốc là: 86.700.000 đồng; lãi trong hạn: 70.678.241 đồng; lãi quá hạn là: 205.754 đồng. Theo khoản thẻ tín dụng tổng số tiền đã trả tạm tính đến này 17/4/2024 là: 256.799.322 đồng; trong đó gốc là: 256.799.322 đồng; lãi: 0 đồng. Tổng cộng số tiền đã trả được là: 414.383.317 đồng; trong đó nợ gốc là: 343.499.322 đồng; tiền lãi trong hạn là: 70.678.241 đồng; lãi quá hạn là: 205.754 đồng.
Hiện tại, ông Nguyễn Đình C2 và bà Đào Thị L còn nợ A2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/4/2024 là: 572.166.175 đồng trong đó: nợ gốc là: 459.017.677 đồng; nợ lãi trong hạn là: 101.866.188 đồng; lãi quá hạn là: 11.282.310 đồng. Cụ thể theo các hợp đồng tín dụng là:
Theo hợp đồng tín dụng là: 527.926.463 đồng; trong đó gốc là: 433.300.000 đồng; lãi trong hạn là: 83.544.153 đồng; lãi quá hạn là: 11.082.310 đồng;
Theo khoản thẻ là: 44.239.712 đồng; trong đó gốc là: 25.717.677 đồng; lãi trong hạn là: 18.322.035 đồng; lãi quá hạn là: 200.000 đồng.
1.4. Quan điểm, yêu cầu khởi kiện:A3 đề nghị Tòa án buộc:
1.4.1. Ông Lê Đình C và bà Đào Thị L thanh toán cho A2 số tiền tính đến ngày 17/4/2024 (bao gồm khoản tín dụng và khoản thẻ) là: 572.166.175 đồng (năm trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là: 459.017.677 đồng; nợ lãi trong hạn là: 101.866.188 đồng; lãi quá hạn là: 11.282.310 đồng.
1.4.2. Kể từ ngày 18/42024, ông Lê Đình C và bà Đào Thị L phải tiếp tục chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ trên số dư nợ gốc cho đến khi thanh toán xong khoản nợ;
1.4.3. Trường hợp sau khi có quyết định/ bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, ông C, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên và lãi phát sinh cho A2 thì A2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 459403, Vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất số 400 QSDĐ/453QĐ/UB do UBND huyện C, tỉnh Hà Tây (Nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 30/12/2001 cho Hộ ông Lê Đình C1. Ngày 10/10/2020 đăng ký sang tên cho ông Lê Đình C.
Nội dung thế chấp được quy định trong Hợp đồng thế chấp bất động sản công chứng số 930.2021, quyển số 01 TP/CC – SCC/HĐGD ngày 20/02/2021 có chứng thực của Văn phòng C3, Thành phố Hà Nội.
Tài sản bảo đảm nêu trên được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật tại Văn phòng Đ – chi nhánh huyện C ngày 09/03/2021.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông C, bà L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho A2.
2. Bị đơn: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông C, bà L theo đúng quy định nhưng ông C, bà L không thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn, không cung cấp chứng cứ và trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Bùi Thị H, chị Lê Thị Lan H1, anh lê Quang T2, cháu Lê Thị S, cháu Lê Gia A; người đại diện theo pháp luật của cháu S, cháu A là ông C và bà L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không cung cấp chứng cứ và trình bày quan điểm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.
4. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/11/2023 thể hiện: Trên thửa đất thế chấp có 01 nhà mái bằng 3 tầng xây khoảng năm 2012; 01 nhà cấp 4 lợp mái ngói; trước nhà là sân lát gạch, tường bao, cổng do vợ chồng ông C, bà L tạo lập; đất đai do cha ông để lại cho ông C. Trên nhà đất này có vợ chồng ông C, bà L cùng 04 con là: chị Lê Thị Lan H1, canh Lê Quang T1, cháu Lê Thị S, cháu Lê Gia A cùng mẹ ông C là bà Bùi Thị H đang ăn ở sinh sống, ngoài ra không có ai khác, không cho ai thuê, mượn, ở nhờ.
5. Ý kiến trình bày của đương sự tại phiên tòa:
Ý kiến của nguyên đơn: A2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: đề nghị ông Lê Đình C và bà Đào Thị L phải trả A2 số tiền nợ tạm tính đến ngày 17/4/2024 (bao gồm khoản tín dụng và khoản thẻ) là: 572.166.175 đồng (năm trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là: 459.017.677 đồng; nợ lãi trong hạn là: 101.866.188 đồng; lãi quá hạn là: 11.282.310 đồng.
Buộc ông C, bà L phải tiếp tục chịu lãi trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ, giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kể từ ngày 18/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Đề nghị được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp ông C, bà L không trả nợ cho A2. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông C, bà L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho A2.
6. Đại diện Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không hấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A2, buộc ông Lê Đình C và bà Đào Thị L phải trả Ngân hàng A2 số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ, hợp đồng sử thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 17/4/2024 (bao gồm khoản tín dụng và khoản thẻ) là: 572.166.175 đồng (năm trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là: 459.017.677 đồng; nợ lãi trong hạn là: 101.866.188 đồng; lãi quá hạn là: 11.282.310 đồng và tiếp tục chịu lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 18/4/2024. Trường hợp ông Lê Đình C và bà Đào Thị L không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1.Về thẩm quyền: Ngân hàng A2 có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đối với ông Lê Đình C và bà Đào Thị L. Hiện ông Lê Đình C và bà Đào Thị L vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã T, huyện C, TP ... Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1.2.Về áp dụng luật nội dung: Thời điểm giao kết Hợp đồng tín dụng là năm 2021 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 và các luật đang có hiệu lực để giải quyết tranh chấp.
1.3. Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung:
2.1. Xét tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng:
Vợ chồng ông Lê Đình C và bà Đào Thị L đã ký Hợp đồng cho vay từng lần số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 20/02/2021; Giấy nhận nợ số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 12/03/2021 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A2 VISA (Dành cho khách hàng cá nhân) hợp đồng số 2607/TTD-MĐ ngày 26/07/2021 với Ngân hàng TMCP A1 – Chi nhánh H2 – Phòng G (sau đây viết tắt là A2):
Mục đích vay vốn: Vay tiêu dùng mua đồ nội thất cho nhà ở tại địa chỉ P, T, C, Hà Nội và tiêu dùng.
Để thực hiện 02 hợp đồng tín dụng trên, A2 đã giải ngân cho ông Lê Đình C và bà Đào Thị L qua giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ; thẻ tín dụng quốc tế A2 Visa.
Xét tính pháp lý của 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên: các bên cùng ký kết trên cơ sở tự nguyện, có hình thức và nội dung tuân thủ các quy định của pháp luật.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng A2 đã giải ngân cho ông C, bà L vay đủ số tiền 520.000.000 đồng (Năm trăm hai mươi triệu đồng) theo hợp đồng tín dụng. Ông C, bà L xác nhận đã nhận đủ số tiền này tại khế ước nhận nợ và đã thanh toán một phần tiền gốc của khế ước nhận nợ. Đối với khoản vay thẻ tín dụng, ông C, bà L đã sử dụng và trả nhiều lần. Như vậy A2 đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Đình C và bà Đào Thị L đã trả được cho A2 tổng số tiền là: 414.383.317 đồng; trong đó nợ gốc là: 343.499.322 đồng; tiền lãi trong hạn là: 70.678.241 đồng; lãi quá hạn là: 205.754 đồng.
Do ông C, bà L đã vi phạm điều khoản cam kết về thời hạn trả nợ tiền vay, số tiền phải trả nên A2 đã thông báo chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn đồng thời yêu cầu ông C, bà L phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng là phù hợp với quy định Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đây là căn cứ pháp lý buộc bên vay là ông C, bà L phải có nghĩa vụ trả ABBANKsố tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế tạm tính đến ngày 17/4/2024 là: 572.166.175 đồng (năm trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là: 459.017.677 đồng; nợ lãi trong hạn là: 101.866.188 đồng; lãi quá hạn là: 11.282.310 đồng.
Ông C, bà L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với tiền nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 18/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
2.2. Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 930.2021, Quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/02/2021 tại địa chỉ Ngân hàng TMCP A1 – chi nhánh H2 – Phòng giao dịch M, Kiot C, tâng 1, chung cư C, khu đô thị M, phường C, quận N, Thành phố Hà Nội có sự chứng thực của Văn phòng C3 – Thành phố Hà Nội giữa bên thế chấp là ông Lê Đình C với bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP A1 – chi nhánh H2 – Phòng G (A2). Đối tượng thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 459403, Vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất số 400 QSDĐ/453QĐ/UB do UBND huyện C, tỉnh Hà Tây (Nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 30/12/2001 cho Hộ ông Lê Đình C1. Ngày 10/10/2020 đăng ký sang tên cho ông Lê Đình C. Các bên đều thừa nhận việc ký kết hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện; nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật; hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên có hiệu lực pháp luật thi hành. Theo đó thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật thi hành.
Do vậy: Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm nêu trên trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng thế chấp, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó: Trường hợp, ông C, bà L không thanh toán được nghĩa vụ trả nợ, A2 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm thì ngoài các đương sự trong vụ án, nếu tại thời điểm xử lý tài sản bảo đảm có người khác đang thực tế sinh sống trên tài sản bảo đảm cũng phải có nghĩa vụ thi hành án.
Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông C, bà L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho A2 .
Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 104, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội hiện tại có vợ chồng ông C, bà L cùng 04 con, mẹ đẻ ông C đang ăn ở, sinh sống, ngoài ra không có ai khác, không cho ai thuê, mượn, ở nhờ. Hiện trạng tài sản vẫn giữ nguyên so với thời điểm ký hợp đồng thế chấp năm 2021.
[3] Về nghĩa vụ chịu án phí:
- - Yêu cầu khởi kiện của A2 được chấp nhận nên không phải chịu án phí, hoàn trả ABBANKtiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Ông C, bà L phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm là: 20.000.000 +4% x (572.166.175 - 400.000.000) đồng = 26.886.647 đồng.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 280, 299, 317, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 167, Điều 179 Luật Đất đai năm 2013;
Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Khoản 13 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A1 (A2) đối với ông Lê Đình C và bà Đào Thị L.
- Buộc ông Lê Đình C và bà Đào Thị L phải trả cho Ngân hàng TMCP A1 (A2) tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 20/02/2021; Giấy nhận nợ số 826/21/TD-TT/II.20 ngày 12/03/2021 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A2 VISA (Dành cho khách hàng cá nhân) hợp đồng số 2607/TTD-MĐ ngày 26/07/2021 tạm tính đến ngày 17/4/2024 là: 572.166.175 đồng (năm trăm bảy mươi hai triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là: 459.017.677 đồng; nợ lãi trong hạn là: 101.866.188 đồng; lãi quá hạn là: 11.282.310 đồng.
Ông Lê Đình C và bà Đào Thị L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 18/4/2024 đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trong trường hợp ông C, bà L không trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ việc trả nợ thì Ngân hàng TMCP A1 (A2) có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 459403, Vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất số 400 QSDĐ/453QĐ/UB do UBND huyện C, tỉnh Hà Tây (Nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 30/12/2001 cho Hộ ông Lê Đình C1. Ngày 10/10/2020 đăng ký sang tên cho ông Lê Đình C
Nội dung thế chấp được quy định Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 930.2021, Quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/02/2021 tại địa chỉ Ngân hàng TMCP A1 - chi nhánh H2 – Phòng giao dịch M, Kiot C, tâng 1, chung cư C, khu đô thị M, phường C, quận N, Thành phố Hà Nội có sự chứng thực của Văn phòng C3 – Thành phố Hà Nội.
Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông C, bà L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho cho Ngân hàng TMCP A1.
Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì ngoài các đương sự trong vụ án đang cư trú tại diện tích nhà đất nêu trên, nếu tại thời điểm xử lý tài sản bảo đảm có người khác đang thực tế sinh sống cùng với các đương sự cũng phải có nghĩa vụ thi hành án.
- Về án phí: ông Lê Đình C và bà Đào Thị L phải nộp 26.886.647 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng TMCP A1 (A2) số tiền 11.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2020/0077117 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Tp ..
- Án xử công khai sơ thẩm; nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Đăng Khoa |
Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 59/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn khởi kiện
