|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 9 năm 2024
Về việc: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Văn Nguyên
- Bà Thân Thị Quyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Không tham gia phiên tòa
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 151/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị N, sinh năm 1982
Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Chị N có mặt tại phiên tòa)
Bị đơn: Anh Dương Văn H, sinh năm 1979
Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Anh H có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Dương Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Dương Văn H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2001. Vợ chồng có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Việc anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối gì, sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Đến năm 2020 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bất hòa và không còn hạnh phúc. Nguyên nhân do anh H ham chơi nợ nần nhiều, không quan tâm, tôn trọng vợ con, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, sống chung như vợ chồng với một người phụ nữ ở tỉnh Cao Bằng. Vợ chồng sống ly thân nhiều năm nay, không ai quan tâm đến ai.
Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Có ba con chung là Dương Thị H1, sinh ngày 22/12/2002 Dương Thị P, sinh ngày 22/10/2009 và Dương Văn D, sinh ngày 05/7/2015. Khi ly hôn chị muốn được trực tiếp nuôi cháu P và cháu D. Cháu H1 đã trưởng thành và có gia đình riêng nên chị không yêu cầu xem xét, giải quyết. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về công nợ chung: Không có
Bị đơn anh Dương Văn H trong quá trình giải quyết trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận anh với chị Dương Thị N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2001. Anh chị có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Việc anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối gì. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2007, vợ chồng ra ở riêng, không có mâu thuẫn gì cho đến năm 2022 anh đi làm ăn ở Cao Bằng, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm vợ chồng có phai nhạt. Anh xác nhận bản thân anh có chơi bời dẫn đến nợ nần nên anh mới phải đi làm xa để trả nợ, nhưng đến nay sau khi có khoản tiền đền bù đất anh đã trả hết nợ, anh cũng không còn chơi bời gì, anh đã lo tu chí làm ăn. Do chị N chưa tin tưởng anh nên đã làm đơn đề nghị ly hôn. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng chăm sóc con.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có ba con chung là Dương Thị H1, sinh ngày 22/12/2002, Dương Thị P, sinh ngày 22/10/2009 và Dương Văn D, sinh ngày 05/7/2015. Trường hợp ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cháu D vì cháu D là con trai.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Không có
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã kiên trì hòa giải, tạo điều kiện cho các đương sự có thời gian để suy nghĩ, tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, với mục đích để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình và không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vì vậy, Tòa án phải quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa: Chị N vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh H, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu P và đồng ý giao cháu D cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung chị xác định không có.
Anh H không nhất trí ly hôn, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng chăm sóc các con. Trường hợp phải ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu D và đồng ý giao cháu P cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung anh không yêu cầu giải quyết, về nợ chung anh xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Dương Thị N và anh Dương Văn H kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 27 vào ngày 12/11/2001. Vì nhiều nguyên nhân, nay chị Dương Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Dương Văn H có nơi cư trú tại xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị N và anh Dương Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo luật định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Lý do chị N xin ly hôn anh H là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H ham chơi, không lo làm ăn, không có trách nhiệm, không tôn trọng vợ con và có quan hệ với người phụ nữ khác, khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, ngột ngạt. Vợ chồng sống ly thân nhau đã lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn với anh H. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa anh H cũng xác nhận vợ chồng hiện đang sống ly thân, tuy vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt gia đình, trước đây anh có ham chơi dẫn đến nợ nần nhưng nay anh đã thay đổi, đã tu chí làm ăn. Anh H xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cho các con có bố có mẹ nên anh H không nhất trí ly hôn với chị N.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa chị N kiên quyết yêu cầu xin ly hôn với anh H, phía anh H không nhất trí ly hôn nhưng cũng không đưa ra được phương án nào để thuyết phục chị N về đoàn tụ. Bản thân anh H cũng xác nhận anh đã nhiều lần động viên chị N quay về nhưng chị N không đồng ý, hiện nay vợ chồng vẫn đang sống ly thân. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã ở tình trạng trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không còn tồn tại nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh H là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh H có 03 con chung là Dương Thị H1, sinh ngày 22/12/2002, Dương Thị P, sinh ngày 22/10/2009 và Dương Văn D, sinh ngày 05/7/2015.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với cháu H1 đã trưởng thành và có gia đình riêng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Cháu P và cháu D còn nhỏ, tại phiên tòa, chị N và anh H tự nguyện thỏa thuận chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương Thị P, anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương Văn D. Việc thỏa thuận trên là phù hợp với quy định pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Vì vậy, cần giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Dương Thị P, sinh ngày 22/10/2009, anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Dương Văn D, sinh ngày 05/7/2015.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh H đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Sau khi ly hôn, chị N và anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
[2.4] Về công nợ chung: Chị N và anh H đều xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[2.6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51và Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu kiện của chị Dương Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Dương Văn H.
2. Về con chung: Giao cho chị Dương Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dương Thị P, sinh ngày 22/10/2009, anh Dương Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dương Văn D, sinh ngày 05/7/2015 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Chị N và anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị N và anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết
4. Về công nợ chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí Ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003899 ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị N, anh H báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 53/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 53/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kiện của chị Dương Thị Như, cho chị Như được ly hôn với anh Dương Văn Huấn
