Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ L

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 16 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt; Ông Đặng Hữu Tấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Ông

Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 10/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 24/4/2024 đối với bị cáo:

Trịnh Hoài T, sinh năm 1985 tại thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Văn B và bà Huỳnh Thị Thanh T1; Bị cáo có vợ tên Dương Thị Bích L và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: không; Tiền sự: ngày 01/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Đến ngày 22/01/2022, chấp hàng xong quyết định; Về nhân thân: ngày 06/11/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp xong bản án. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L từ 14/12/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Trần Phong Đ, sinh năm 1996. Nơi cư trú: số B, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt
  2. Lê Công C, sinh năm 1997. Nơi cư trú: số A, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt
  3. Lê Quốc T2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: tổ F, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Hoài T là người sử dụng chất ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/8/2023, anh Lê Công C và anh Nguyễn Hồng N đến nhà ông Trịnh Văn B (cha của T) ở số A, khóm B, phường B, thành phố L để sửa máy lạnh. Sau khi kiểm tra, anh C cho ông B biết máy lạnh hết ga nên phải bơm thêm thì bị T dùng tay đánh vào mặt 01 cái làm anh C té ngã xuống nền gạch. Thấy T hung hăng nên anh N và C bỏ chạy, T đuổi theo không kịp nên nhặt 1/2 viên gạch ống và 1/2 viên gạch thẻ ở lề đường cầm trên hai tay đứng trước nhà la hét. Lúc này, anh Nguyễn Tấn M điều khiển xe mô tô chạy qua bị T chặn lại. Tiếp đó, T chặn xe của anh Huỳnh Viễn P và anh Lê Quốc T2, dùng viên gạch cầm bên tay trái đánh 01 cái trúng vào vùng trán phải của anh T2 gây thương tích. Cùng lúc, Công an phường B nhận được tin báo của người dân nên phân công các anh Nguyễn Trần Phong Đ, Trần Văn S (cán bộ Công an phường), Nguyễn Quốc C1, Nguyễn Quốc T3 (Bảo vệ dân phố của phường) đi giải quyết vụ việc. Đến nơi, anh Đ và anh S yêu cầu T bỏ gạch xuống chấm dứt hành vi chặn xe, đánh người nhưng T chống đối dùng gạch đánh 01 cái trúng vào vùng đầu của anh Đ rồi bỏ chạy. Sau đó, lực lượng Cảnh sát 113 đến hổ trợ khống chế bắt giữ T. Thông giằng co và tự đập đầu xuống đường nhựa gây thương tích nên được đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu. Vật chứng thu giữ gồm: 1/2 viên gạch ống có dính bê tông kích thước (6.5 x 19) cm; 1/2 viên gạch thẻ kích thước (7.5 x 8) cm.

Ngày 08/11/2023, Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L.có Công văn số 183/CV-UBND đề nghị xử lý Trịnh Hoài T về hành vi gây mất an ninh, trật tự.

Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 04/8/2023 tại Bệnh viện Đ1 của Trịnh Hoài T dương tính với Methamphetamine.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 766/23/KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với anh Lê Quốc T2, sinh năm 1992, xác định: Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vùng trán phải kích thước 02 x 0.2 cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ: 03%. Kết luận khác: thương tích do vật tày gây nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 767/23/KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với anh Nguyễn Trần Phong Đ, sinh năm 1996, xác định: Dấu hiệu chính qua giám định: Sây sát da và sưng bầm vùng đính sau bên phải hiện tại không để lại thương tích, tỷ lệ: 00%. Kết luận khác: thương tích do vật tày gây nên.

Cáo trạng số: 62/CT-VKS ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Trịnh Hoài T về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 330, điểm d khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51,Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Hoài T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt 02 năm 09 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy ½ viên gạch ống có dính bê tông kích thước (6,5x19) cm; 12/viên gạch thẻ kích thước (7,5x8) cm.

Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trịnh Hoài T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố, sự việc xảy ra là do bị cáo nghiện ma túy, loại Methamphtamine nên tinh thần bị kích động, không điều khiển được hành vi bản thân. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi vừa qua.

Các anh Lê Quốc T2, Nguyễn Trần Phong Đ, Lê Công C vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra, các anh có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy quá trình điều tra, Cơ quan điều tra – Công an thành phố L đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt đương sự không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự

Ngày 04/8/2023, bị cáo Trịnh Hoài T thừa nhận thực hiện hành vi la hét, vô cớ dùng tay đánh vào mặt ông Lê Công C, dùng gạch đánh vào vùng trán của ông Huỳnh Viễn P và ông Lê Quốc T2, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Khi được tổ công tác của Công an phường B đến can ngăn, giải quyết thì bị cáo không chấp hành mà tiếp tục dùng gạch ném vào đầu ông Nguyễn Trần Phong Đ là Công an viên đang thi hành công vụ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm và tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm. Do đó, việc truy tố bị cáo theo tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Đối với hành vi của bị cáo đã dùng gạch là hung khí nguy hiểm đánh anh Lê Quốc T2 gây thương tích với tỷ lệ 03% là vi phạm pháp luật nhưng anh T2 không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ. Riêng, người bán ma túy cho T chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội

Bị cáo là người trưởng thành, khỏe mạnh, nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân nhưng bị cáo nghiện ma túy dẫn đến rối loạn hành vi, dùng gạch được xem là hung khí nguy hiểm vô cớ gây thương cho những người không mâu thuẫn với bị cáo và chống lại lực lượng Công an, Bảo vệ dân phố đang thi hành công vụ, điều này thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, đồng thời xâm phạm đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người dân biết tôn trọng pháp luật, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “Phạm tội có tính chất côn đồ”. Xét thấy, bị cáo bị truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Chống người thi hành công vụ”, khách thể bị cáo xâm phạm là an ninh, trật tự xã hội, không xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo đề nghị truy tố của Viện kiểm sát.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L có chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên các vật chứng gồm: ½ viên gạch ống có dính bê tông kích thước (6,5x19) cm; 12/viên gạch thẻ kích thước (7,5x8) cm. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hoài T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Chống người thi hành công vụ”.

[1] Về hình phạt: điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trịnh Hoài T 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.

[2] Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: ½ viên gạch ống có dính bê tông kích thước (6,5x19) cm; 12/viên gạch thẻ kích thước (7,5x8) cm (Xử lý vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L).

[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

(Giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tp.L;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp.L;
  • - Nhà tạm giữ Công an Tp.L;
  • - Người tham gia tố tụng trong vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Quốc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trịnh Hoài T 02 (hai) năm tù về tội ‘Gây rối trật tự công cộng” và 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger