|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 14 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cẩu và ông Nguyễn Hoàng Tiến
-Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 và ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2023/TLST-HS ngày 6 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 9 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 08/2024/QÐST-HSST ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lưu Nguyễn Ngọc T (tên gọi khác Duy A), sinh năm: 1996 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Ngọc P và bà Nguyễn Thị Mai H; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: chưa
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C (có mặt).
Bị hại: Ông Trần Thanh T1, sinh năm: 1985; trú tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
A1, sinh năm 1984; trú tại: số B, Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
2/Lê Văn Thiện E, sinh năm: 1989; trú tại: số H, Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
C1, sinh năm: 1986; trú tại: Tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, An Giang
2
(vắng mặt).
4/Lê Thị Huỳnh Đ, trú tại: Khóm C, phường C, Thành phố C, An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Phú C, sinh năm: 1999. Trú tại: khóm T, phường M, thành phố L, An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 3 giờ 10 phút ngày 20/5/2024 tại địa bàn khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang xãy ra mất trộm tài sản xe mô tô biển số 67C1-820.20. Khoảng 4 giờ ngày 20/5/2024, Công an phường M, thành phố L, tỉnh An Ging tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Lê Văn Thiện E1, ngụ: số H, Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, phát hiện Lưu Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Phú C đang đứng cạnh xe mô tô gắn biển số 67E1- 214.89 trước cửa rào nhà Thiện E1. Lực lượng chức năng tiếp tục kiểm tra trong sân nhà Thiện E1 phát hiện 01 biển số 67C1-820.20 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67C1-820.20 mang tên Trần Thanh T1, nên mời T và những người có liên quan về làm việc.
Quá trình điều tra T khai vừa nhận xe mô tô 67C1-820.20 từ Tí (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe đến nhà C, rước C đến trước cửa rào nhà Thiện E1, hỏi mượn chìa khoá tắt máy xe. Đồng thời, T nhặt biển số xe 67E1-214.89 cặp bên hông nhà Thiện E1, lấy dụng cụ sửa xe của Lê Văn N (anh của Thiện E1) để trong sân nhà, tháo biển số 67C1-820.20 gắn biển số 67E1-214.89 vào xe trộm thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.
Vật chứng thu giữ:
01 xe mô tô biển số: 67C1-820.20; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại FUTURE F1, màu trắng nâu đen; số máy: JC90E0162765; số khung: RLHJC7655MY048897 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe số: 67007156 do Công an huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 8/12/2021 (đã trao trả cho bị hại Trần Thanh T1).
01 biển số 67E1-214.89
01 điện thoại di động hiệu VSMART, số IMEI: 359869100787758, 359869100787766, đã qua sử dụng, có gắn sim số thuê bao 0774639748.
Tại Kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐ ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C xác định: 01 xe mô tô biển số: 67C1-820.20, xe đã qua sử dụng có giá trị là 35.000.000 đồng x70% = 24.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKSCT ngày 6 tháng 8 năm 2024, Viện trưởng
3
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố Lưu Nguyễn Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
-Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
-Tại phiên toà, bị hại ông Trần Thanh T1 vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Tuy nhiên ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
4
Lưu Nguyễn Ngọc T đã có hành vi trộm cắp tài sản của Trần Thanh T1 01 xe mô tô biển số 67C1 - 820.20, thay biển số khác nhằm đối phó lực lượng chức năng, chuẩn bị điều khiển giao cho người khác thì bị phát hiện. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 24.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3]Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4]Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên ý thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về xử lý vật chứng:
01 xe mô tô biển số: 67C1-820.20 quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết
-Biển số 67E1-214.89 bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi tội phạm. Do đó đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
-01 điện thoại di động hiệu VSMART, số IMEI: 359869100787758, 359869100787766, đã qua sử dụng, có gắn sim số thuê bao 0774639748 không liên quan đến vụ án đề nghị giao trả cho bị cáo T.
[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân, địa chỉ), quá trình điều tra chưa xác minh làm việc được nên sẽ điều tra, làm rõ sau.
5
Đối với Trần Thanh N1: Quá trình điều tra, N1 không thừa nhận hành vi mua xe mô tô của Lưu Nguyễn Ngọc T nên không đủ cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/5/2024).
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- -Tịch thu tiêu huỷ biển số 67E1-214.89
- -Trả cho bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu VSMART, số IMEI: 359869100787758, 359869100787766, đã qua sử dụng, có gắn sim số thuê bao 0774639748.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/9/2024). Đối với bị hại, Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .Tuyên bố bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2.Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Ngọc Toàn 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/5/2024).
