TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15-8-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Út
- Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Thanh B - sinh năm 1971 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Bà Lê Thị Á - sinh năm 1975 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khu phố G, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Thanh B trình bày:
Ông và bà Lê Thị Á tự nguyên tìm hiểu, chung sống với nhau vào năm 2000, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận ngày 25/10/2000. Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông sống hạnh phúc; tuy nhiên đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; bà Á ôm con nhỏ là cháu Lê Thanh N bỏ nhà đi đâu ông không biết, bà Á không nói và không gọi điện thoại cho ông. Vợ chồng ông đã ly thân từ năm 2023, trong thời gian ly thân vợ chồng ông không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Do mâu thuẫn kéo dài và vợ chồng đã không sống chung cùng nhau từ năm 2023 nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Lê Thị Á.
Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là Lê Hữu N1 – sinh năm 1997, Lê Thành T – sinh năm 2000, Lê Thanh N2 – sinh ngày 09/6/2006 và Lê Thanh N – sinh ngày 18/02/2017. Do Lê Hữu N1, Lê Thành T và Lê Thanh N2 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Ông đồng ý giao cháu Lê Thanh N cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại “Đơn xin giải quyết vắng mặt” ngày 09/8/2024, nguyên đơn ông Lê Thanh B vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã khai tại Tòa án.
Đối với bị đơn bà Lê Thị Á: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Lê Thị Á không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; văng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thông báo tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh B.
Về hôn nhân: Ông Lê Thanh B được ly hôn với bà Lê Thị Á.
Về con chung: Giao cháu Lê Thanh N, sinh ngày 18/02/2017 cho bà Lê Thị Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Bằng không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn ông Lê Thanh B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Lê Thị Á. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn:
Đối với nguyên đơn, tại “Đơn xin giải quyết vắng mặt” ngày 09/8/2024, nguyên đơn ông Lê Thanh B xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án; đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Lê Thanh B và bà Lê Thị Á tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000, có tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận ngày 25/10/2000; Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Thanh B vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn bà Lê Thị Á, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến nay đời sống vợ chồng của ông B, bà Á không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ông B, bà Á đã ly thân từ năm 2023, trong thời gian ly thân vợ chồng ông không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Tình trạng mâu thuẫn giữa ông B và bà Á được chính quyền địa phương xác nhận tại Biên bản xác minh ngày 03/4/2024. Bà Á biết việc ông B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện bà Á không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa ông B và bà Á đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Lê Thanh B.
[2.2] Về con chung:
Ông B và bà Á có 04 con chung là Lê Hữu N1, sinh năm 1997; Lê Thành T, sinh năm 2000; Lê Thanh N2, sinh ngày 09/6/2006 và Lê Thanh N, sinh ngày 18/02/2017. Hiện các con chung Lê Hữu N1, Lê Thành T và Lê Thanh N2 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động tự túc được nên ông Bằng k yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu Lê Thanh N, thời điểm khởi kiện cháu N chưa đủ 07 tuổi; tuy nhiên đến nay cháu N đã đủ 07 tuổi nên phải hỏi ý kiến, nguyện vọng của cháu N. Ông B khai hiện cháu N đang sống cùng bà Á, ông B trình bày Á tự ý dẫn cháu N bỏ nhà đi không thông báo và không điện thoại cho ông biết nên ông không thể dẫn cháu N đến Toà án để ghi ý kiến, nguyện vọng của cháu N. Lời khai của ông B phù hợp với kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 03/4/2024, thể hiện: “Vợ chồng ông B, bà Á không còn sống chung với nhau từ năm 2023 đến nay, bà Á thường xuyên vắng mặt tại địa phương nhưng vẫn hay đi đi về về tại địa phương. Ông B hiện đang sống cùng 03 người con là Lê Hữu N1, Thành Thành T và Lê Thanh N2. Riêng cháu Lê Thanh N hiện sống cùng bà Lê Thị Á. Tuy nhiên, mỗi lần bà Á về địa phương thì chỉ về một mình không dẫn theo cháu N về cùng”. Ngoài ra, những người con của ông B và bà Á là Lê Thành T và Lê Thanh N2 đều xác nhận hiện cháu N đang ở cùng bà Á. Do đó, Toà án không thể ghi nhận ý kiến, nguyện vọng của cháu N. Mặc khác, ông B cũng đồng ý tiếp tục giao cháu N cho bà Á trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện cháu N đang sống cùng bà Á, cháu N là bé gái mới được hơn 07 tuổi, quá trình phát triển toàn diện của cháu cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, do đó để đảm bảo môi trường sống ổn định của cháu N, Hội đồng xét xử chấp nhận tiếp tục giao con chung cháu Lê Thanh N cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Thị Á vắng mặt không có ý kiến về việc yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do đó, ông Bằng k phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Tài sản chung và nợ chung:
Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn ông Lê Thanh B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 58 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh B.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Thanh B được ly hôn bà Lê Thị Á.
- Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Á là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Lê Thanh N - sinh ngày 18/02/2017.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Thanh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Ông Lê Thanh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000817 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang -T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Lê Thanh B đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
