|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 59/2024/DS-ST Ngày: 15-8-2024 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lý và bà Hoàng Thị Thoan.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST- DS ngày 11/3/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐ-ST ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1938; địa chỉ: Tổ dân phố F, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết H1, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ dân phố F, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt,
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Minh T - Luật sư Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số G đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn:
- Ông Phan Lâm P và bà Hoàng Thị L; địa chỉ: Số C A, C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Diễm Q; địa chỉ: Số B L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình,
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Tuấn L1 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
2
- Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình,
- Ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị T2; địa chỉ: Số B L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Chức vụ: Chủ tịch; địa chỉ: phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Viết H1 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Gia đình bà Hoàng Thị H khai hoang đất và đã được UBND thành phố Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số phát hành Y453603 ngày 31/5/2004 tại các thửa đất số 118,119, tờ bản đồ số 12 và thửa đất số 32, tờ bản đồ số 02, diện tích 18.725,0m²; địa chỉ: phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, mang tên hộ ông bà Nguyễn Văn H2, Hoàng Thị H. Gia đình sử dụng ổn định không có tranh chấp. Tuy nhiên, trong quá trình cấp đổi giấy CNQSDĐ lần thứ hai cho ông Phan Lâm P, bà Hoàng Thị L và ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị T2 đã cấp chồng lên một phần diện tích đất đã cấp cho hộ bà H. Diện tích theo giấy CNQSDĐ cấp đổi cho ông P, bà L cấp chồng lên đất hộ bà H là 2.049m²; đất của ông T1, bà T2 cấp chồng lên đất của hộ bà H là 4.082m². Vì vậy, đề nghị Toà án giải quyết huỷ giấy CNQSDĐ số phát hành BI 242885 đã được UBND thành phố Đ cấp cho ông Phan Lâm P và bà Hoàng Thị L, để trả lại cho hộ bà H diện tích 2.049m² đất và huỷ giấy CNQSDĐ số phát hành BI 248150 đã được UBND thành phố Đ cấp cho ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị T2 (hiện ông T1, bà T2 đã tặng cho bà Nguyễn Thị Diễm Q), để trả lại cho hộ bà H diện tích 4.082m² đất.
Bị đơn ông Phan Lâm P, bà Hoàng Thị L và bà Nguyễn Thị Diễm Q: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bị đơn đến Tòa án để viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng các bị đơn đều vắng mặt không có lý do nên không hòa giải được.
Ngày 25/7/2024, Tòa án nhận được ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q, trình bày. Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ký hiệu BI 248150, do UBND thành phố Đ cấp ngày 09/3/2012, với thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, diện tích 20.982m²; địa chỉ: phường B, thành phố Đ (theo bản đồ được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 23/4/2009) có nguồn gốc được UBND thị xã Đ cấp giấy CNQSDĐ vào năm 1998, là đất rừng sản xuất. Sau đó, do có một số thay đổi nên ngày 09/3/2012, UBND thành phố Đ đã cấp lại giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông bà Nguyễn Văn T1, Bùi Thị T2 (hiện nay đã tặng lại cho tôi, con gái ruột, tức là Nguyễn Thị Diểm Q1 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đăng ký biến động mang tên Nguyễn Thị Diễm Q ngày 22/6/2018). Việc UBND thành phố Đ cấp giấy CNQSDĐ cho ông bà Nguyễn Văn T1, Bùi Thị T2 là theo đúng quy định tại Điều 15 và Điều 18 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP
3
về việc cấp giấy CNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi và giải quyết khiếu nại về đất. Ngoài ra, còn 4 hộ được cấp cùng thời gian bao gồm ông Nguyễn Văn H3 (đã chuyển nhượng); ông Đào Hữu C, ông Phan Lâm P, bà Hoàng Thị L và ông Lê Thanh T3. Vì vậy, bà Hoàng Thị H khởi kiện tôi và ông Phan Lâm P, bà Hoàng Thị L về tranh chấp quyền sử dụng đất không biết cơ sở từ đâu, gây phiền hà, phiền nhiễu đến những gia đình trong đó có tôi. Vì vậy, tôi kính đề nghị Quý Tòa xử lý dứt điểm vụ việc để trả lại cuộc sống bình yên cho gia đình tôi.
Ngày 25/7/2024, Tòa án nhận được ý kiến của bị đơn bà Hoàng Thị L, trình bày. Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BI 242885 do UBND thành phố Đ cấp ngày 28/12/2011, với thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, diện tích 10.499m²; địa chỉ: phường B, thành phố Đ (theo bản đồ được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 23/4/2009) có nguồn gốc được UBND thị xã Đ cấp giấy CNQSDĐ vào năm 1998, là đất rừng sản xuất. Sau đó, do có một số thay đổi nên ngày 28/12/2011, UBND thành phố Đ đã cấp lại giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L. Việc UBND thành phố Đ cấp giấy CNQSDĐ cho ông bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L là theo đúng quy định tại Điều 15 và Điều 18 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP về việc cấp giấy CNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi và giải quyết khiếu nại về đất. Ngoài ra, còn 4 hộ được cấp cùng thời gian bao gồm ông Nguyễn Văn H3 (đã chuyển nhượng); ông Đào Hữu C; ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị T2 (hiện nay đã tặng cho con gái ruột là bà Nguyễn Thị Diễm Q) và ông Lê Thanh T3. Vì vậy, bà Hoàng Thị H khởi kiện tôi và bà Nguyễn Thị Diễm Q là không có cơ sở vì việc cấp giấy CNQSDĐ đã cách đây gần 20 năm và từ đó đến nay không xảy ra tình trạng tranh chấp kiện tụng nào. Vì vậy, tôi đề nghị Quý Tòa xử lý dứt điểm vụ việc để trả lại cuộc sống bình yên cho gia đình tôi.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị T2: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1, bà T2 đến Tòa án để viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông T1, bà T2 đều vắng mặt không có lý do, nên không hòa giải được.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, tại Công văn số 763/UBND ngày 08/5/2024, UBND thành phố Đ có ý kiến đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất như sau:
Đối với Giấy CNQSDĐ số phát hành BI 242885, cấp ngày 28/12/2011 cho ông, bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L, thuộc thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, phường B. Theo hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ của ông bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L do gia đình kê khai, được UBND phường B xác nhận, thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, diện tích 10.499 m² đất rừng sản xuất, tại phường B (bản đồ đã được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 23/4/2009) có nguồn gốc được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ năm 1998, với diện tích 8.450m² đất rừng sản xuất,
4
phần diện tích tăng thêm so với Giấy CNQSDĐ đã cấp do gia đình khai hoang thêm từ năm 1997 và chênh lệch diện tích giữa 2 lần đo. Tại thời điểm cấp Giấy CNQSDĐ, thửa đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Căn cứ Điều 15 và Điều 18 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy CNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Ngày 28/12/2011, UBND thành phố Đ đã cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L, với diện tích 10.499m² đất rừng sản xuất, thuộc thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, phường B theo quy định.
Theo Báo cáo số 125/BC-CNVPĐK ngày 02/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, thì Giấy CNQSDĐ do UBND thành phố Đ cấp ngày 28/12/2011 cho ông bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L đối với thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, phường B lên thửa đất số 118, 119, tờ bản đồ số 12, phường B đã được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ ngày 31/5/2004 cho hộ ông bà Nguyễn Văn H2, Hoàng Thị H, diện tích đất cấp chồng là phần diện tích biến động tăng thêm so với Giấy CNQSDĐ đã cấp, nên đề nghị UBND thành phố thu hồi Giấy CNQSDĐ đã cấp nói trên theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và khoản 26 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ). Tuy nhiên, hiện nay bà Hoàng Thị H đang khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ do UBND thành phố Đ cấp cho ông bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L ngày 28/12/2011 đối với thửa đất nói trên. Vì vậy, việc thu hồi Giấy CNQSDĐ sẽ thực hiện theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực thi hành.
Đối với Giấy CNQSDĐ số phát hành BI 248150, cấp ngày 09/3/2012 cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị T2, thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, phường B. Theo hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ của ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị T2 do ông T1, bà T2 kê khai, được UBND phường B xác nhận, thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, diện tích 20.982 m² đất rừng sản xuất, tại phường B (bản đồ đã được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 23/4/2009) có nguồn gốc được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ năm 2001, với diện tích 16.900m² đất rừng sản xuất, phần diện tích tăng thêm so với Giấy CNQSDĐ đã cấp do gia đình khai hoang thêm từ năm 1997 và chênh lệch diện tích giữa 2 lần đo. Theo đơn xin cấp Giấy CNQSDĐ được UBND phường B xác nhận ngày 28/11/2011, thì tại thời điểm cấp Giấy CNQSDĐ, thửa đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Căn cứ Điều 15 và Điều 18 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy CNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Ngày 09/3/2012, UBND thành phố Đ đã cấp Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
5
gắn liền với đất cho ông bà Nguyễn Văn T1, Bùi Thị T2, với diện tích 20.982m² đất rừng sản xuất, thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, phường B.
Theo Báo cáo số 125/BC-CNVPĐK ngày 02/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, thì Giấy CNQSDĐ do UBND thành phố Đ cấp ngày 09/3/2012 cho ông bà Nguyễn Văn T1, Bùi Thị T2, đối với thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, phường B lên thửa đất số 118, 119, tờ bản đồ số 12, phường B đã được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ ngày 31/5/2004 cho hộ ông bà Nguyễn Văn H2, Hoàng Thị H, diện tích đất cấp chồng là phần diện tích biến động tăng thêm so với Giấy CNQSDĐ đã cấp, nên đề nghị UBND thành phố thu hồi Giấy CNQSDĐ đã cấp nói trên theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và khoản 26 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ). Tuy nhiên, hiện nay ông bà Nguyễn Văn T1, Bùi Thị T2 đã tặng cho toàn bộ thửa đất nói trên cho bà Nguyễn Thị Diễm Q theo Hợp đồng số 2427, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 30/5/2018 tại Phòng C1 tỉnh Quảng Bình, nên UBND thành phố không thu hồi được Giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông T1, bà T2 ngày 09/3/2012 nói trên theo quy định tại khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình có ý kiến:
Tại Công văn số 390/UBND ngày 02/5/2024, UBND phường B có ý kiến về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, quá trình sử dụng của các thửa đất:
Ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị T2 được UBND thị xã Đ cấp GCN số phát hành R 382314 ngày 15/02/2001, tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 2, diện tích 16900,0m². Ngày 09/3/2012, ông T1, bà T2 được cấp đổi GCN số phát hành BL 248150, thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, diện tích 20982,0 m3, diện tích tăng 4082,0m² so với GCN đã cấp năm 2001. Nguyên nhân tăng do gia định khai hoang thêm và chênh lệch diện tích giữa hai lần đo được UBND phường B xác nhận tại đơn cấp giấy ngày 28/11/2011 và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận ngày 02/02/2012. Ngày 30/5/2018, ông bà Nguyễn Văn T1, Bùi Thị T2 đã tặng cho toàn bộ thửa đất cho bà Nguyễn Thị Diễm Q theo Hợp đồng số 2427, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD, tại Phòng C1 tỉnh Quảng Bình.
Ông bà Phan Lâm P, Hoàng Thị L được UBND thị xã Đ cấp GCN số phát hành K 158513 ngày 25/5/1998, tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 2, diện tích 8450,0m². Ngày 28/12/2011 ông P, bà L được cấp đổi GCN số phát hành BI 242885, thuộc thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, diện tích 10499,0 m², diện tích tăng 2049,0m² so với GCN đã cấp năm 1998. Nguyên nhân tăng do gia đình khai hoang thêm và chênh lệch diện tích giữa hai lần đo được UBND phường B xác nhận tại đơn cấp giấy ngày 28/11/2011 và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận ngày 17/12/2011.
6
Căn cứ hồ sơ đăng ký cấp giấy CNQSDĐ cho hộ ông bà Nguyễn Văn H2, Hoàng Thị H năm 2004, có nguồn gốc đất do UBND phường B giao đất theo Quyết định ngày 14/4/1993, với diện tích 10.000,0m² tại địa điểm Khe Duyên. Giấy CNQSDĐ được cấp số phát hành Y 435603 ngày 31/5/2004, gồm 3 thửa đất số 118, 119, tờ bản đồ số 12 và thửa đất số 32, tờ bản đồ số 02, với tổng diện tích là 18.725,0m² đất lâm nghiệp. Đối chiếu bản đồ địa chính năm 1997 và năm 2022 thửa đất số 32, tờ bản đồ số 02, diện tích 9345,0m² được cấp cho ông H2, bà H năm 2004, chưa xác định được vị trí thực tế và vị trí theo bản đồ địa chính hiện tại của UBND phường B. Hiện tại toàn bộ hồ sơ lưu về cấp giấy CNQSDĐ và cấp đổi giấy CNQSDĐ của các hộ gia đình đều được lưu trữ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, là nơi cấp giấy CNQSDĐ và cấp đổi giấy CNQSDĐ cho các hộ gia đình trên. Tại UBND phường không lưu trữ hồ sơ của các hộ gia đình trên.
Ngày 05/5/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản. Ngày 17/5/2024, Tòa án tiến hành thành lập Hội đồng xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản. Kết quả xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản. Thửa đất số 32, tờ bản đồ số 02 và các thửa đất số 118, 119, tờ bản đồ số 12, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình do ông Nguyễn Viết H1 người đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị H chỉ dẫn đo đạc thực tế sử dụng đất. Trên các thửa đất có trồng cây Keo, mật độ trồng tập trung từ 1.600 đến 2.000 cây, trồng năm 2021, có đường kính phi 05cm đến dưới phi 10cm. Đất rừng sản xuất có giá 14.000 đồng/m²; cây Keo, mật độ trồng tập trung từ 1.600 đến 2.000 cây, có đường kính phi 05cm đến phi dưới 10cm, có giá 36.462.000 đồng/ha (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Ngày 15/7/2024, Tòa án tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, nhưng các bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T1, bà T2 vắng mặt không có lý do, nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, các bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng ông T1, bà T2 vắng mặt lần hai không có lý do. Nguyễn đơn đề nghị xét xử vắng mặt các bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không hòa giải được. Tòa án đã mở phiên tòa lần thứ nhất ngày 15/7/2024 nhưng các bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất, nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay các bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có dơn xét xử vắng mặt. Riêng ông T1, bà T2 vắng mặt lần hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
7
Về nội dung: Qua xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 100, Điều 105, 106, 166, 170 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Chấp nhận yêu cầu khởi của bà Hoàng Thị H, về việc huỷ giấy CNQSDĐ số phát hành BI 242885 đã được UBND thành phố Đ cấp cho ông Phan Lâm P và bà Hoàng Thị L, để trả lại cho hộ bà H, diện tích đất 1.152,3m² và huỷ giấy CNQSDĐ số phát hành BI 248150 đã được UBND thành phố Đ cấp cho ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị T2 (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đăng ký biến động mang tên Nguyễn Thị Diễm Q ngày 22/6/2018) để trả lại cho hộ bà H, diện tích đất 4.777,2m². Yêu cầu của bà H được Tòa án chấp nhận, nên không phải chịu án phí. Các bị đơn phải chịu án phí. Tại phiên tòa nguyên đơn thỏa thuận tự chịu chi phí tố tụng nên cần chấp nhận. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Hoàng Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phan Lâm P và bà Hoàng Thị L, trả lại cho bà H diện tích đất 2.049,0m² và bà bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q, trả lại cho gia đình bà H diện tích đất 4.082m²; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BI 242885, được UBND thành phố Đ cấp cho ông P và bà L; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BI 248150, được UBND thành phố Đ cấp cho ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị T2 (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đăng ký biến động mang tên Nguyễn Thị Diễm Q ngày 22/6/2018). Đây là quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của UBND thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, là quyết định cá biệt. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 9 Điều 26; Điều 34, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bị đơn ông P, bà L và bà Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T1, bà T2 đến Tòa án để viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng các bị đơn ông P, bà L và bà Q, ông T1, bà T2 đều vắng mặt không có lý do, nên không hòa giải được. Ngày 15/7/2024, Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng ông P, bà L, bà Q và ông T1, bà T2 vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, nên phải hoãn phiên tòa. Ngày 25/7/2024 các bị đơn đã gửi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên tòa hôm nay, các bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xết xử vắng mặt. Riêng ông T1, bà T2 vẫn vắng mặt lần hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của các bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:
8
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng và cấp giấy CNQSDĐ các thửa đất tranh chấp, thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập tại hồ sơ vụ án, quá trình xem xét thẩm định tại chổ, ý kiến của các đương sự, có căn cứ xác định: Ngày 25/5/1998, UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp giấy CNQSDĐ số phát hành K 158513, thửa đất số 45, tờ bản đồ số 02, diện tích 8.450,0m², mang tên bà Hoàng Thị L và ngày 15/02/2001, UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp giấy CNQSDĐ số phát hành R 382314, thửa đất số 44, tờ bản đồ số 02, diện tích 16.900m², mang tên bà Bùi Thị T2. Các thửa đất số 44 và 45, phía Bắc tiếp giáp với phần diện tích các thửa đất số 118, 119 của hộ ông H2, bà H được UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp giấy CNQSDĐ số phát hành Y 435603, gồm 3 thửa đất số 118, 119, 32, diện tích 18.725m² ngày 31/5/2004, mang tên hộ ông Nguyễn Văn H2, bà Hoàng Thị H. Tuy nhiên, ngày 28/12/2011, UBND thành phố Đ tiến hành cấp đổi giấy CNQSDĐ số phát hành BI 242885, thửa đất số 147, tờ bản đồ 141, diện tích 10.499m², mang tên ông Phan Lâm P và bà Hoàng Thị L, diện tích tăng thêm là 2.049m². Ngày 09/3/2012, UBND thành phố Đ cấp đổi giấy CNQSDĐ số phát hành BI 248150, thửa đất số 139, tờ bản đồ 141, diện tích 20.982m², mang tên ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị T2, diện tích tăng thêm là 4.082m². Qua kiểm tra hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ và thực tế sử dụng đất của các gia đình ông bà Phương L2, ông bà Thành T4 và gia đình bà H. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ phát hiện, giấy CNQSDĐ do UBND thành phố Đ cấp ngày 28/12/2011 cho ông P, bà L2 đối với thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, phường B và giấy CNQSDĐ do UBND thành phố Đ cấp ngày 09/3/2012 cho ông T1, bà T4 đối với thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, phường B, chồng lên các thửa đất số 118, 119, tờ bản đồ số 12, phường B đã được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ ngày 31/5/2004 cho hộ gia đình bà H, diện tích đất cấp chồng là phần diện tích biến động tăng thêm so với Giấy CNQSDĐ đã cấp, nên đề nghị UBND thành phố thu hồi Giấy CNQSDĐ đã cấp đổi của ông P, bà L2 và ông T1 và T4, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và khoản 26 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ), nhưng hiện nay bà H đang khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ do UBND thành phố Đ cấp cho ông P, bà L2 ngày 28/12/2011, nên việc thu hồi Giấy CNQSDĐ sẽ thực hiện theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực thi hành; còn thửa đất đã cấp đổi cho ông T1, bà T4 hiện nay ông T1 bà T4 đã tặng cho toàn bộ thửa đất cho bà Nguyễn Thị Diễm Q theo Hợp đồng số 2427, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 30/5/2018 tại Phòng C1 tỉnh Quảng Bình, nên UBND thành phố không thu hồi được Giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông T1, bà T4 ngày 09/3/2012, theo quy định tại khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
Do đó, có căn cứ xác định. Ngày 15/02/2001, UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp giấy CNQSDĐ số phát hành K 158513, thửa đất số 45, tờ bản
9
đồ số 02, diện tích 8.450,0m², mang tên bà Hoàng Thị L và ngày 15/02/2001, UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp giấy CNQSDĐ số phát hành R 382314, thửa đất số 44, tờ bản đồ số 02, diện tích 16.900m², mang tên bà Bùi Thị T2 là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất thực tế. Tuy nhiên, năm 2011 cấp đổi giấy CNQSDĐ cho ông P, bà L và năm 2012 cấp đổi giấy CNQSDĐ cho ông T1, bà T2 các cơ quan chức năng thiếu kiểm tra, xem xét thực địa thửa đất, mà chỉ căn cứ hồ sơ đề nghị cấp giấy CNQSDĐ do gia đình bà L, bà T2 kê khai và được UBND phường B, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất xác nhận diện tích tăng thêm do khai hoang và chênh lệch giữa hai lần đo đạc tại đơn đề nghị cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà L và bà T2. Vì vậy, ngày 28/12/2011, UBND thành phố Đ cấp đổi giấy CNQSDĐ số phát hành BI 242885, thửa đất số 147, tờ bản đồ 141, diện tích 10.499m² (diện tích tăng thêm là 2.049m²), mang ông P và bà L. Ngày 09/3/2012, UBND thành phố Đ cấp đổi giấy CNQSDĐ số phát hành BI 248150, thửa đất số 139, tờ bản đồ 141, diện tích 20.982m² (diện tích tăng thêm là 4.082m²), mang tên ông T1 và bà T2, mà không có biên bản xác minh tình trạng sử dụng đất và nguyên nhân biến động đất, biên bản kiểm tra thực trạng thửa đất có biến động dẫn đến việc cấp giấy CNQSDĐ cho ông P, bà L và ông T1, bà T2 không đúng ranh giới, diện tích thực tế của người sử dụng đất. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, thấy rằng diện tích thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141 cấp giấy CNQSDĐ cho ông P, bà L đã chồng lên diện tích 1.152,3m² của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 12, cấp giấy CNQSDĐ cho hộ bà H2; thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141 được cấp giấy CNQSDĐ cho ông T1, bà T2 đã chồng lên diện tích 3.756,1m² của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 12 và chồng lên diện tích 1.021,1m² của thửa đất số 118, tờ bản đồ số 12, đã cấp giấy CNQSDĐ cho hộ bà H2 đang sử dụng để trồng cây Keo từ trước tới nay. Vì vậy, có căn cứ khẳng định việc UBND thành phố Đ cấp đổi giấy CNQSDĐ số phát hành BI 242885, thửa đất số 147, tờ bản đồ 141, diện tích 10.498,8m², mang tên ông P, bà L và cấp đổi giấy CNQSDĐ số phát hành BI 248150, thửa đất số 139, tờ bản đồ 141, diện tích 20.952,1m² mang tên ông T1, bà T2 (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đăng ký biến động mang tên bà Nguyễn Thị Diễm Q ngày 22/6/2018) là chưa đảm bảo đúng quy định tại các Điều 50, 105, 107 Luật đất đai năm 2003 và các Điều 100, 106, 166, 170 Luật đất đai năm 2013. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H. Hủy giấy CNQSDĐ số phát hành BI 242885, thửa đất số 147, tờ bản đồ 141, diện tích 10.498,8m², mang tên ông P, bà L và buộc ông P, bà L phải trả lại cho hộ bà H diện tích 1.152,3m² cấp chồng lên diện tích đất của hộ bà H. Hủy giấy CNQSDĐ số phát hành BI 248150, thửa đất số 139, tờ bản đồ 141, diện tích 20.952,1m² mang tên ông T1, bà T2 (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đăng ký biến động mang tên bà Nguyễn Thị Diễm Q ngày 22/6/2018) và buộc bà Nguyễn Thị Diễm Q phải trả lại cho hộ bà H diện tích 4.777,2m² cấp chồng lên diện tích đất của hộ bà H để cấp lại giấy CNQSDĐ cho ông P, bà L và bà Q đúng với ranh giới, diện tích đã được cấp giấy CNQSDĐ trước khi chưa cấp đổi giấy CNQSDĐ là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, ý kiến của Văn phòng đăng ký đất đai, UBND thành phố Đ và các quy định của pháp luật về đất
10
đai.
[3]. Về chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tại phiên tòa nguyên đơn thỏa thuận chịu toàn bộ số tiền 5.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản (nguyên đơn đã nộp và chi phí hết).
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên không phải chịu án phí. Các bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5]. Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34, Điều 37, Điều 39, 147, 157, 165, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 50, 105, 107 Luật đất đai năm 2003 và các Điều 100, 106, 166, 170 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lí và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị H.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BI 242885, thửa đất số 147, tờ bản đồ số 141, diện tích 10.499m²; địa chỉ: phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình do UBND thành phố Đ cấp ngày 28/12/2011, mang tên ông Phan Lâm P, bà Hoàng Thị L. Buộc ông P, bà L phải trả lại cho hộ bà H, diện tích 1.152,3m² cấp chồng lên diện tích thửa đất số 119, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình do UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/5/2004, mang tên hộ ông Nguyễn Văn H2, bà Hoàng Thị H, cụ thể: phía Đông Bắc từ điểm số 23 đến điểm số 24, có kích thước 28,99m; phía Đông Nam từ điểm số 24 đến điểm số 45, có kích thước 61,43m; phía Tây Nam từ điểm số 45 đến điểm số 46, có kích thước 12,56m; phía T từ điểm số 46 đến điểm số 23, có kích thước 57,16m (có sơ đồ bản vẻ kèm theo).
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 248150, thửa đất số 139, tờ bản đồ số 141, diện tích 20.982m²; địa chỉ: Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình do UBND thành phố Đ cấp ngày 09/3/2012 mang tên ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị T2 (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đăng ký biến động mang tên bà Nguyễn Thị Diễm Q ngày 22/6/2018). Buộc bà Nguyễn Thị Diễm Q phải trả lại cho hộ bà H, diện tích 4.777,2m² cấp chồng lên diện tích các thửa đất số 119 và 118, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình do UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/5/2004, mang tên hộ ông Nguyễn Văn H2, bà Hoàng Thị H, cụ thể: phía Đông Bắc từ điểm số 12 đến 16 đến 17 đến 18 đến điểm số 23, có kích thước 80,55m; phía Đông Nam từ điểm số 23 đến điểm số 46, có kích thước 51,16m; phía Tây Nam từ điểm số 46 đến 47 đến điểm số 48, có kích
11
thước 61,63m; phía T từ điểm số 48 đến 10 đến 11 đến điểm số 12, có kích thước 99,21m (có sơ đồ bản vẻ kèm theo).
Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành làm thủ tục đăng ký và cấp giấy CNQSDĐ theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn thỏa thuận tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản, số tiền 5.000.000 đồng (ông Nguyễn Viết H1 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã nộp và chi phí hết).
- Về án phí: Bị đơn ông Phan Lâm P, bà Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng và bị đơn bà Nguyễn Thị Diễm Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Viết Hải |
12
Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 59/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị H hủy Giấy CNQSD đất
