|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-PT
Ngày 15/5/2024
V/v tranh chấp về ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Duyên.
Bà Nguyễn Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 “Tranh chấp về ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1662/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị bị đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2009/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim P, sinh năm 1967; địa chỉ cư trú: Số A Đường số A, Lê Đức Thọ P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị đơn: Ông Đào Quang A, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Số F P, Phường A, quận G, Tp. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P trình bày:
Bà Bùi Thị Kim P và ông Đào Quang A tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1989 và được Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 22/89, ngày 10/4/1989. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Ông Đào Quang A không có trách nhiệm với gia đình. Vì thương các con còn nhỏ nên bà Phước đã chịu đựng rất nhiều, bà Phước phải chuyển ra phòng trọ ở để nuôi các con. Bà P1 và ông Đào Quang A đã sống ly thân hơn 10 năm nay. Trong thời gian sống ly thân bà Phước và ông A mạnh ai nấy sống, không còn sự quan tâm đến nhau. Nay các con đều đã lớn và bà Phước xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đào Quang A.
Về con chung: Bà Bùi Thị Kim P và ông Đào Quang A có 03 con tên Đào Mai Lệ H, sinh ngày 25/02/1990 (đã thành niên), Đào Mai Huyền T, sinh ngày 21/8/1991 (đã thành niên) và Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009. Bà Phước yêu cầu được nuôi con Đào Anh Hoàng L và không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Tại Bản tự khai ngày 10/8/2023 trẻ Đào Anh Hoàng L có nguyện vọng được ở với mẹ - bà Bùi Thị Kim P.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phước không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn - ông Đào Quang A trình bày: Ông xác nhận quá trình xây dựng gia đình đúng như bà Phước đã trình bày. Từ sau khi bà Phước sinh con thứ nhất, bà Phước đã có ý định xin ly hôn. Từ tháng 07/2010, ông và bà Phước không thường xuyên chung sống cùng nhau. Bà Phước và các con ở nhà trọ, còn ông ở căn nhà thờ tổ của gia đình. Nay bà Phước xin ly hôn thì ông không đồng ý vì ông vẫn làm tròn trách nhiệm với vợ con và vì truyền thống của gia đình nên ông không thể ly hôn. Ông xác nhận hiện nay, hai con gái đã thành niên, con trai là Đào Anh Hoàng L đang do bà Phước nuôi dưỡng. Ông không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1662/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp quyết định:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P được ly hôn với ông Đào Quang A (Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 22/89, do Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/4/1989 hết hiệu lực).
- Về con chung: Có 03 con chung tên Đào Mai Lệ H, sinh ngày 25/02/1990 (đã thành niên), Đào Mai Huyền T, sinh ngày 21/8/1991 (đã thành niên) và Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009.
Giao con Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009 cho bà Phước trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phước không yêu cầu ông Quang A cấp dưỡng nuôi con.
Ông Quang A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung: Không xét.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 02/01/2024 bị đơn ông Đào Quang A kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Đào Quang A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông A trong thời hạn luật định.
Về nội dung: Bà Bùi Thị Kim P và ông Đào Quang A là vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 quyển số 22/89 do Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/4/1989. Vợ chồng bà Phước, ông A đã không chung sống hơn 10 năm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bà Phước cương quyết ly hôn. Ông A kháng cáo không đồng ý ly hôn nhưng ông không đưa ra giải pháp hàn gắn, đoàn tụ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phước là có căn cứ theo quy định Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về việc nuôi con: Tòa án cấp sơ thẩm giao con Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009 cho bà Bùi Thị Kim P là phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi về mọi mặt của con theo quy định Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Kim P không yêu cầu ông Đào Quang A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo bị đơn ông Đào Quang A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Đào Quang A làm trong thời hạn quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 01 quyển số 22/89 do Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/4/1989 thì hôn nhân giữa bà Bùi Thị Kim P và ông Đào Quang A là hợp pháp.
Căn cứ lời khai của bà Phước và ông A thì vợ chồng đã không chung sống trong thời gian dài (hơn 10 năm), không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà Phước xác định không còn tình cảm, cương quyết yêu cầu ly hôn ông A. Ông A kháng cáo không đồng ý ly hôn vì truyền thống gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì bà Phước và ông A đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phước là có căn cứ.
[3] Về nuôi con: Căn cứ các giấy khai sinh số 00054 do UBND Phường 15 quận G cấp ngày 16/3/1990, 00141 do UBND Phường 15 quận G cấp ngày 16/9/1991, 042 do A2, quận G cấp ngày 16/02/2009 thì bà Bùi Thị Kim P và ông Đào Quang A có 03 con: Đào Mai Lệ H, sinh ngày 25/02/1990 (đã thành niên), Đào Mai Huyền T, sinh ngày 21/8/1991 (đã thành niên) và Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009.
Theo lời khai thống nhất của bà Phước và ông A thì con Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009 do bà Phước trực tiếp nuôi từ năm 2010. Con Đào Anh Hoàng L có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm giao con Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009 cho bà Phước trực tiếp nuôi là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Kim P tự nguyện không yêu cầu ông Đào Quang A cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn - ông Đào Quang A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ông Đào Quang A phải chịu án phí phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim P được ly hôn ông Đào Quang A.
- Về nuôi con: Giao bà Bùi Thị Kim P trực tiếp nuôi con Đào Anh Hoàng L, sinh ngày 08/02/2009, giới tính nam.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận bà Bùi Thị Kim P tự nguyện không yêu cầu ông Đào Quang A cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Kim P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Phước đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai tạm ứng án phí số AA/2023/0012150 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phước đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào Quang A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông A đã nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai tạm ứng án phí số AA/2023/0013276 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông A đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án ; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, các bên có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Minh |
6
7
Bản án số 59/2024/HNGĐ-PT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Ly hôn
