Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/DS-ST

Ngày: 15-04-2024

V/v tranh chấp “ Hợp đồng tín

dụng – Hợp đồng thế chấp-

Hợp đồng hợp tác”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

***

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Bé Bảy
  2. Bà Lê Thị Thu Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham dự phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 và 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 147/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng - hợp đồng thế chấp, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N.

    Trụ sở: số A T phường L, quận H, thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo pháp luật ông Phạm Quang D – Chủ tịch HĐQT

    Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị T – Giám đốc chi nhánh T3.

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: bà Nguyễn Nữ Thủy V –Phó trưởng phòng phụ trách phòng G

    Địa chỉ: số F quốc lộ A, khu phố A, phường D, TX C, tỉnh Tiền Giang.

    Giấy ủy quyền số 22/UQ-TGI-HCNS ngày 02 tháng 4 năm 2024.

  2. Bị đơn:

    2.1 Ông Lê Quốc T1 sinh năm 1979.

    Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang

    2.2 Bà Nguyễn Thị Thanh P sinh năm 1979.

    Địa chỉ: 1 M, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    3.1 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho

    Người đại diện theo pháp luật ông Tạ Thanh T2 – Chi cục trưởng

    Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thu B – Chấp hành viên,

    3.2 Ông Nguyễn Hữu H sinh năm 1952.

    Địa chỉ: C xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre

    Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hoàng A sinh năm 1981

    Địa chỉ: 2 Đ, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

    3.3 Chị Nguyễn Thị Thái H1 sinh năm 1979

    Địa chỉ: 2 ấp E, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

( Chị P có đơn xin vắng, các đương sự còn lại có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26/4/2023, và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP N chi nhánh T3 – phòng G, có ký kết hợp với ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P với các hợp đồng như sau:

Hợp đồng vay số 0092/VCB-CL/21CD ngày 06/4/2021, vay số tiền 8.000.000.000 đồng, mục đích vay là bù đắt tiền chuyển nhượng QSD đất, thời hạn vay là 240 tháng, lãi suất 8,4%/ năm cố định trong 24 tháng kể từ ngày giả ngân đầu tiên, sau thời gian áp dụng lãi cố định thì lãi suất vay = lãi suất huy động tiết kiệm VND 12 tháng trả lãi cuối kỳ +3.5%/ năm nhưng không thấp hơn sàn cho vay cùng kỳ hạn của sản phẩm theo thông báo của Ngân hàng tại thời ddierm đó. Thời gian điều chỉnh lãi là 03 tháng /lần. Phương thức trả gốc và lãi. Đến nay dư nợ còn lại là 7.299.650.000 đồng, nợ lãi 101.704.2020 đồng, (lãi quá hạn 53.826.498 đồng), lãi chậm trả là 246.889 đồng

Hợp đồng vay số 0227/VCB-CL/21CD ngày 20/10/2021, vay số tiền 5.000.000.000 đồng, mục đích vay là xây nhà ở, thời hạn vay là 240 tháng, lãi suất cố định trong 24 tháng kể từ ngày giả ngân, mức lãi suất được ghi cụ thể tại giấy nhận nợ, sau thời gian áp dụng lãi cố định thì lãi suất vay = lãi suất huy động tiết kiệm VND 12 tháng trả lãi cuối kỳ +3.5%/ năm nhưng không thấp hơn sàn cho vay cùng kỳ hạn của sản phẩm theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểm đó. Thời gian điều chỉnh lãi là 03 tháng /lần. Phương thức trả gốc và lãi. Đến nay dư nợ còn lại là 4.891.720.199 đồng, nợ lãi 68.285.451 đồng, (lãi quá hạn 36.172.179 đồng), lãi chậm trả là 229.530 đồng

Hợp đồng vay số 0143/VCB-CL/22CD ngày 28/6/2022, hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0143/ VCB-CL/22CD ngày 28/12/2022, vay số tiền 4.800.000.000 đồng, mục đích vay là xây nhà ở, thời hạn vay là 240 tháng, lãi suất cố định trong 36 tháng kể từ ngày giả ngân, mức lãi suất được ghi cụ thể tại giấy nhận nợ, sau thời gian áp dụng lãi cố định thì lãi suất vay = lãi suất huy động tiết kiệm VND 12 tháng trả lãi cuối kỳ +3.5%/ năm nhưng không thấp hơn sàn cho vay cùng kỳ hạn của sản phẩm theo thông báo của Ngân hàng tại thời ddierm đó. Thời gian điều chỉnh lãi là 03 tháng /lần. Phương thức trả gốc và lãi. Đến nay dư nợ còn lại là 4.960.235.180 đồng, nợ lãi 64.365.370 đồng, (lãi quá hạn 36.506.302 đồng), lãi chậm trả là 160.027 đồng

Ngoài ra, vào ngày 24/01/2022 ông Lê Quốc T1 có kết ký hợp đồng đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức cấp thẻ là 150.000.000 đồng, và hiện tại còn nợ 137.507.476 đồng

Tính đến ngày 01/3/2023 ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P còn nợ số tiền 16.483.967.576 đồng:

Để đảm bảo cho các khoản vay ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P đã ký kết hợp đồng thê chấp quyền sử dụng đất số 0031/VCB-CL/TC21 ngày 06/4/2021, hợp đồng thê chấp nhà ở hình thành trong tương lai số 0082/VCB-CL/TC21 ngày 20/10/2021(hợp đồng sửa đổi bổ sung ngày 28/6/2022 );

Quá trình thu hồi nợ ông T1 và bà P đã phát sinh nợ quá hạn vào ngày 07/02/2023, ngân hàng đã nhiều lần thông báo và nhắc nhở nhưng ông T1 và bà P vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1 và bà P phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với số tiền còn nợ đến ngày 29/6/2023 là 17.117.951.493 đồng

Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0031/VCB-CL/TC21 ngày 06/4/2021, hợp đồng thê chấp nhà ở hình thành trong tương lai số 0082/VCB-CL/TC21 ngày 20/10/2021(hợp đồng sửa đổi bổ sung ngày 28/6/2022 ) để ngân hàng thu hồi nợ.

Theo đơn yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu H và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hoàng A thì giữa ông H và ông T1, bà P có ký kết “Giấy thỏa thuận góp vốn về việc mua đất và xây dựng” ngày 11/01/2023, với nội dung ông H góp số tiền 3.000.000.000 đồng vào 02 lô đất mà ông T1 đứng tên, từ thời điểm 30/10/2021 đến ngày 12/01/2023 cho ông T1 và bà P, thỏa thuận sau khi bán tài sản, ông T1 bà P phải có trách nhiệm hoàn trả lãi số tiền góp vốn và lợi nhuận chia theo tỷ lệ phần trăm góp vốn. Tuy nhiên sau đó, ông T1 và bà P không đóng lãi và hiện tài sản trên đang bị kê biên để thi hành án. Do đó, nay ông H có yêu cầu buộc ông T1 và bà P có trách nhiệm liên đới trả cho ông H số tiền 3.000.000.000 đồng.

Tại nội dung các biên bản hòa giải và phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận kiểm tra, công khai chứng cứ, bị đơn ông Lê Quốc T1 trình bày thống nhất có ký kết nhiều hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và hợp đồng đề nghị cấp thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP N chi nhánh T3, hiện tại ông cũng thống nhất do làm ăn thua lỗ nên còn nợ lại Ngân hàng tổng số nợ vốn và lãi đến ngày 08/12/2023 là 17.802.681.646 đồng. Nay ngân hàng khởi kiện, ông T1 thống nhất trả và đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ. Về phần lãi suất ông T1 yêu cầu ngân hàng giảm lãi do hiện tại ông không còn khả năng thanh toán. Đối với yêu cầu độc lập của ông H, ông T1 không đồng ý, vì giữa ông với ông H không phát sinh quan hệ góp vốn mà chỉ là quan hệ vay mượn tiền. Ông T1 thừa nhận có ký tên vào giấy thỏa thuận góp vốn nhưng không nhận số tiền 3.000.000.000 đồng từ ông H, số tiền 3.000.000.000 đồng theo nội dung giấy thỏa thuận là số tiền chốt vốn và lãi giữa ông và ông H. Nay ông chỉ đồng ý trả lại cho ông H số tiền 1.500.000.000 đồng.

Bị đơn Nguyễn Thị Thanh P trình bày thống nhất có cùng với anh Lê Quốc T1 ký kết 03 hợp đồng vay theo nội dung đơn kiện. Tuy nhiên, sau khi tiến hành ký kết các văn bản thì anh T1 là người trực tiếp nhận tiền giải ngân từ ngân hàng, do đó, chị P không nắm được trên thực tế anh T1 có nhận đủ số tiền giải ngân hay không, nên đề nghị Ngân hàng cung cấp chứng từ ủy nhiệm chi và tài liệu chuyển khoản số nợ trên để làm rõ sự việc, nếu đầy đủ chứng cứ thì chị P đồng ý trả nợ cho ngân hàng. Đối với phần lãi suất phát sinh đề nghị Ngân hàng giảm một phần lãi suất cho chị P và anh T1 do hiện nay việc làm ăn của chị P gặp nhiều khó khăn nên dẫn đến việc chậm trễ trong việc thanh toán các khoản nợ. Về phần nợ thẻ tín dụng, chị P không đồng ý trả do là khoản nợ riêng của anh T1, chị không liên quan. Đối với yêu cầu độc lập của ông H, bà không đồng ý, do khi bà ký tên vào giấy thỏa thuận với mục đích chốt lại số nợ mà ông T1 còn nợ ông H, hoàn toàn không có việc bà nhận số tiền 3.000.000.000 đồng từ ông H, chị H1, do đó bà không đồng ý trả số tiền trên cho ông H.

Người đại diện theo ủy quyền của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho trình bày: Hiện tại chi cục thi hành án dân sự đang thụ lý thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án đối với bản án số 08/2023/QĐST –DS ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, căn cứ vào quy định luật thi hành án, chấp hành viên đã tiến hành xác minh tài sản của ông Lê Quốc T1 và xác định tài sản ông T1 hiện đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP N – chi nhánh T3. Để có cơ sở xử lý tài sản của ông T1, chi cục thi hành án dân sự đã có công văn đề nghị Ngân hàng TMCP N phối hợp việc kê biên bán đấu giá đối với những tài sản của ông T1 đang thế chấp tại ngân hàng và sau khi bán đấu giá tài sản sẽ ưu tiên thanh toán trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP N, và sau đó trả nợ cho công ty T4 theo nội dung bản án của Tòa án. Việc xử lý toàn bộ tài sản của ông Lê Quốc T1 để thi hành án là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật thi hành án và sẽ tiến hành bán đấu giá vào ngày 15/9/2023, tuy nhiên đến nay tài sản trên vẫn chưa được bán do chưa có chủ thể trúng đấu giá. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì Chi cục thi hành án không có ý kiến.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thái H1 trình bày thống nhất với nội dung đơn độc lập của ông H, theo nội dung Giấy thỏa thuận ngày 11/01/2023, ông H có góp vốn số tiền 3.000.000.000 đồng cho ông T1 và bà P tuy nhiên số tiền trên là tiền ông T1 và chị P nợ ông H từ năm 2021, đến năm 2023 các bên thống nhất thỏa thuận lại theo giấy thỏa thuận góp vốn. Chị H1 xác định sau khi ký kết giấy thỏa thuận trên thì chị không giao số tiền 3.000.000.000 đồng cho ông T1 và bà P.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông T1 và bà P chịu trách nhiệm liên đới trả cho ngân hàng tổng số vốn và lãi tính đến ngày 14/4/2024 là 18.563.649.236 đồng. Trường hợp ông T1 và bà P không thực hiện yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ. Đối với khoản vay thẻ tín dụng ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông T1 và bà P phải cùng có nghĩa vụ thanh toán do là khoản nợ xác lập trong thời gian hôn nhân. Về yêu cầu độc lập của người liên quan thì ngân hàng không có ý kiến.

Bị đơn ông Lê Quốc T1 thống nhất số tiền vốn lãi tính đến ngày 14/04/2024 là 18.563.649.236 đồng, xin giảm lãi và đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho ngân hàng. Ông T1 không đồng ý trả số tiền 3.000.000.000 đồng cho ông H và xác định tuy có thỏa thuận góp vốn giữa các bên nhưng phía ông H chưa giao số tiền góp vốn là 1.800.000.000 đồng cho ông sau khi các bên ký kết hợp đồng góp vốn, số tiền 1.200.000.000 đồng còn lại ông T1 xác nhận là số tiền ông còn nợ ông T1. Nay ông T1 chỉ đồng ý trả cho ông H số tiền còn nợ là 1.500.000.000 đồng. Ngoài ra, ông T1 trình bày khoản nợ được xác lập với ông H là khoản nợ riêng của ông, bà P không biết.

Bị đơn Nguyễn Thị Thanh P có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu H vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông T1 và bà P trả cho ông H số tiền 3.000.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật, từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 và Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở phù hợp tại các Điều 463,466,504,512 của Bộ luật dân sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T1 và P phải có trách nhiệm cùng trả toàn bộ các khoản nợ phát sinh từ các hợp đồng tín dụng và hợp đồng phát hành thẻ đã ký kết, trường hợp ông T1 bà P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản ông T1 và bà P đã thế chấp tại ngân hàng. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu H, buộc ông T1 và bà P phải trả số tiền 3.000.000.000 đồng, trả 01 lần ngay khi án có hiệu lực.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]- Về thủ tục tố tụng:Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng vay và Hợp đồng thế chấp. Tuy các bị đơn không có địa chỉ tại thành phố M nhưng theo thỏa thuận tại Điều 14 Hợp đồng tín dụng và Điều 7 Hợp đồng thế chấp thì khi phát sinh tranh chấp thì Tòa án cấp có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nơi ngân hàng TMCP N – chi nhánh T3 đặt trụ sở tại thười điểm nộp đơn khởi kiện. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2]- Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn Nguyễn Thị Thanh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà P.
  3. [3]- Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Hợp đồng vay số 0092/VCB-CL/21CD ngày 06/4/2021; Hợp đồng vay số 0227/VCB-CL/21CD ngày 208/10/2021; hợp đồng vay số 0143/VCB-CL/22CD ngày 28/6/2022 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0143/VCB-CL/22CD-SD1 ngày 28/12/2022 giữa Ngân hàng TMCP N- chi nhánh T3 – Phòng G, với ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên là hợp đồng hợp pháp. Ông T1, bà P đã nhận tiền giải ngân từ ngân hàng thông qua các Giấy nhận nợ mà Ngân hàng đã cung cấp kèm theo hồ sơ khởi kiện. Theo hợp đồng vay được hai bên ký kết, bên vay có nghĩa vụ trả nợ theo phương thức trả vốn, lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng với lịch trả nợ gốc hàng tháng và lịch trả lãi vào ngày 5 hàng tháng theo phiếu tính lãi của ngân hàng, ngoài ra tại hợp đồng còn quy định cụ thể về phương thức tính lãi suất trên dự nợ gốc quá hạn và lãi suất chậm trả. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Lê Quốc T1, thống nhất có nợ Ngân hàng TMCP N – chi nhánh T3 tổng số tiền vốn lãi đến ngày 14/4/2024 là 18.391.945.168 đồng theo hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp đã ký, thống nhất trả bằng phương thức phát mãi tài sản thế chấp, đồng thời đề nghị xóa lãi quá hạn và lãi do chậm trả lãi, do có khó khăn trong quá trình kinh doanh, nhưng phía ngân hàng không đồng ý. Bị đơn Phương trong quá trình giải quyết cũng thống nhất thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký cùng với ông T1. Nhận thấy, phía ông T1 và bà P đã không thực hiện đúng thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết, dù ngân hàng cũng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nên đã vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay.

    Xét thấy theo nội dung hợp đồng tín dụng thể hiện, các bên có thỏa thuận các khoản phải thanh toán khi vi phạm nghĩa vụ, trong đó có lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi do chậm trả lãi. Xét các khoản nguyên đơn yêu cầu, bị đơn đều thừa nhận do chưa thanh toán theo hợp đồng và các giấy nhận nợ, chỉ yêu cầu xóa lãi quá hạn và lãi do chậm trả lãi. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn xin xóa lãi, nguyên đơn không thống nhất, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

  4. [4]- Đối với khoản nợ thẻ tín dụng theo hợp đồng phát hành thẻ không ghi số ngày 24/01/2022 do ông Lê Quốc T1 ký kết với ngân hàng TMCP N – chi nhánh T3- Phòng G, hiện tại phía ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với hợp đồng và còn nợ số tiền 171.704.068 đồng. Do đó, ngân hàng yêu cầu ông T1 và bà P phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ trên. Bị đơn Lê Quốc T1 thống nhất về việc có ký kết hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với ngân hàng TMCP N – chi nhánh T3 với hạn mức cấp thẻ là 150.000.000 đồng, và hiện tại ông còn nợ ngân hàng số tiền 171.704.068 đồng ( trong đó gốc là 135.755.832 đồng, lãi 25.462.200 đồng và lãi phạt 10.486.036 đồng). Nay ngân hàng khởi kiện ông T1 thống nhất trả số nợ trên cho ngân hàng. Riêng đối với bà P, quá trình giải quyết vụ án bà P không đồng ý liên đới cùng ông T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền này do đây là khoản nợ của cá nhân ông T1, bà không biết cũng như không hề sử dụng bất kỳ khoản tiền nào có liên quan đến thẻ tín dụng trên, và tại phiên tòa ông T1 cũng cho rằng đây là khoản nợ riêng của cá nhân ông, sau khi ký hợp đồng phát hành thẻ tín dụng, ông đã rút số tiền 150.000.000 đồng để mua điện thoại và trang thiết bị phụ tùng xe ôtô. Nhận thấy, thời điểm ông T1 được cấp hạn mức thẻ tín dụng trên, tuy ông T1 và bà P là vợ chồng, nhưng bà P không được biết việc ông T1 ký kết phát hành thẻ tín dụng, cũng như không sử dụng số tiền trên, phía ông T1 cũng thừa nhận là khoản nợ riêng của cá nhân ông và được ông sử dụng vào mục đích cá nhân, phía ngân hàng cũng không có tài liệu chứng minh bà P có sử dụng số tiền từ thẻ tín dụng trên cùng với ông T1 nên không có cơ sở để buộc bà P cùng có nghĩa vụ liên đới cùng với ông T1, và cần buộc ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 171.704.068 đồng cho ngân hàng.
  5. [5]- Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có yêu cầu ông T1 và bà P phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng đã ký kết, từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông T1 và bà P thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐCA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng vay có thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn. Do các bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã phân tích trên nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông T1 và bà P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  6. [6]- Xét tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là:

    Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 415, tờ bản đồ số 27, có diện tích là 115,0m² loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp E, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 459627, có số vào sổ cấp GCN: CS 08159 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 25/4/2016 và những sửa đổi bổ sung kèm theo cho ông Lê Quốc T1. Hiện đã được điều chỉnh cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 308205, có số vào sổ cấp GCN: CS 26055 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 24/02/2023 cho ông Lê Quốc T1.

    Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 416, tờ bản đồ số 27, có diện tích là 115,0m² loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp E, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 459537, có số vào sổ cấp GCN: CS 08157 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 25/4/2016 và những sửa đổi bổ sung kèm theo cho ông Lê Quốc T1. Hiện đã được điều chỉnh cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 308206, có số vào sổ cấp GCN: CS 26056 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 24/02/2023 cho ông Lê Quốc T1.

    Xét, hợp đồng thế chấp số 0031/VCB-CL/TC21 ký ngày 06/4/2021 đã được ký kết giữa bên thế chấp là ông Lê Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh P với ngân hàng thương mại cổ phần N – chi nhánh T3, Phòng G là tự nguyện, và tài sản thể chấp đã đăng ký đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc ngân hàng yêu cầu nếu ông T1 và bà P không trả nợ thì ngân hàng sẽ yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông T1 và bà P tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán dứt nợ.

    Hiện tại, những tài sản nêu trên đang được cơ quan thi hành án kê biên, bán đấu giá, nhưng chưa được bán đấu giá. Nhận thấy, tuy những tài sản trên được đảm bảo cho khoản vay của ông T1 và bà P với ngân hàng N - chi nhánh V1, nhưng trước khi tiến hành các thủ tục đấu giá có liên quan phía cơ quan thi hành án đã có văn bản trao đổi và được sự thống nhất của ngân hàng, ông T1, bà P để tiến hành các thủ tục kê biên bán đấu giá những tài sản thuộc thửa đất 415, 416 và ưu tiên thanh toán các khoản nợ được đảm bảo của ngân hàng TMCP N - chi nhánh V1 với ông T1 và bà P nên quyết định kê biên số 37/QĐ-CCTHADS ngày 07/6/2023 và bán đấu giá trên là không trái với quy định của khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự, Điều 81 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 thang 5 năm 2014 và Điều 5 của luật Đấu giá tài sản.

  7. [7]- Về yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu H, căn cứ vào “Giấy thỏa thuận góp vốn” ngày 11/01/2023, Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa ông Nguyễn Hữu H và ông Lê Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh P có xác lập hợp đồng hợp tác góp vốn với số tiền 3.000.000.000 đồng theo quy định tại Điều 504 của Bộ luật Dân sự, bởi qua lời trình bày của ông T1, bà H1 và ông H có thể xác định các bên có thỏa thuận việc chuyển khoản tiền nợ mà ông T1 đang còn nợ ông H chuyển thành khoản tiền góp vốn vào thửa đất 415 và 416 của ông T1, bà P và ông T1 thống nhất có ký tên vào giấy thoả thuận góp vốn ngày 11/01/2023, nhưng chưa có sự thống nhất về số tiền góp vốn mà ông T1 bà P đã nhận. Theo ông T1, ông có nợ tiền của ông H trước đó là 1.200.000.000 đồng, sau đó các bên mới thống nhất để ông H góp thêm số tiền 1.800.000.000 đồng để đầu tư xây dựng tài sản trên thửa đất 415 và 416, nhưng ông T1 chưa nhận được 1.800.000.000 đồng từ ông H và xác định đây là khoản nợ riêng của ông, bà P không biết. Khi ký kết giấy thoả thuận góp vốn phía ông H vẫn chưa giao lại các biên nhận nợ đối với số tiền 1.200.000.000 đông. Phía người đại diện của ông H trình bày không thống nhất với lời trình bày của ông T1 và cho rằng số tiền mà ông T1 bà P nợ ông H trên thực tế là nhiều hơn 3.000.000.000 đồng nhưng các bên thống nhất chuyển sang thành tiền góp vốn nên thống nhất còn lại là 3.000.000.000 đồng, khi ông T1 ký vào giấy thoả thuận góp vốn ông H đã giao trả hết biên nhận nợ, ông T1 đã trực tiếp xé bỏ. Xét thấy, lời trình bày của ông T1 là chưa có cơ sở, bởi vì trên thực tế ông T1 và bà P đều là người có kinh nghiệm trong việc làm ăn kinh doanh, nên việc cho rằng không đọc kỹ nội dung “ Bên B (đại diện là bà H1) đã góp vốn với số tiền 3.000.000.000 đồng”, thậm chí chưa nhận từ ông H các biên nhận nợ cũ mà đồng ý ký giấy thoả thuận thống nhất ông H đã góp vốn số tiền 3.000.000.000 đồng là hoàn toàn không có căn cứ. Ngoài ra, phía ông T1 và bà P cũng không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh ông T1 chỉ còn nợ ông H số tiền 1.200.000.000 đồng và số tiền 1.800.000.000 đồng ông H, bà H1 chưa giao đủ. Do đó, yêu cầu độc lập của ông H là có căn cứ, và lời khai nại của ông T1 là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
  8. [8]- Xét về yêu cầu liên đới của ông H, căn cứ vào việc bà P thừa nhận chữ ký tại Giấy thoả thuận ngày 11/01/2023 và cũng không giao nộp bất kỳ tài liệu chứng cứ để xác định không có nhận số tiền 3.000.000.000 đồng. Ngoài ra, tại phiên tòa, ông T1 xác định ông và bà P là vợ chồng kết hôn từ năm 2003, và cả hai cùng nhau làm ăn kinh doanh đến năm 2022 thì vợ chồng ly hôn. Bà P cũng thừa nhận chữ ký tại Giấy thỏa thuận góp vốn ngày 11/01/2023 nên cần xác định là khoản nợ chung của ông T1 và bà P.
  9. [9]- Phía ông H và ngừoi đại diện không có yêu cầu ông T1 và bà P phải chi trả thêm khoản lãi phát sinh theo giấy thoả thuận ngay 11/01/2023, là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận và không đặt ra xem xét.
  10. [10]- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham dự phiên toà là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được xem xét.
  11. [11]- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 91, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ các Điều 288, 317, 318, 319, 320,504, 507 Bộ Luật dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐCA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N.
    • - Buộc ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền còn nợ cả gốc lẫn lãi là 18.391.945.168₫ ( Mười tám tỷ ba tram chin mươi mốt triệu chín tram bốn mươi lăm ngàn một trăm sáu mươi tám đồng).
    • - Buộc ông Lê Quốc T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần N Năm số tiền nợ thẻ tín dụng là 171.704.068đ ( Một trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm lẻ bốn ngàn không trăm sáu mươi tám đồng)
    • - Từ ngày tiếp theo của ngày 14/4/2024, ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông T1, bà P vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
    • Trường hợp ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp bao gồm :
      • + Nhà ở và quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 308205, có số vào sổ cấp GCN: CS 26055 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 24/02/2023 cho ông Lê Quốc T1.
      • + Nhà ở và quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 308206, có số vào sổ cấp GCN: CS 26056 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 24/02/2023 cho ông Lê Quốc T1.
      • - Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán dứt nợ.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu H

    Buộc ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P có nghĩa vụ liên đới trả cho ông H số tiền 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    3.1. Ông Lê Quốc T1 và bà Nguyễn Thị Thanh P phải chịu 218.392.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    3.2. Ông Lê Quốc T1 phải chịu 8.585.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    3.3. H2 lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 62.242.000 (Sáu mươi hai triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023741 ngày 26/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.

  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Thị Trúc Linh

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
  • - VKS nhân dân TP Mỹ Tho.
  • - Cơ quan Thi hành án dân sự TP Mỹ Tho.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng – hợp đồng thế chấp – hợp đồng hợp tác

  • Số bản án: 59/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng – Hợp đồng thế chấp – Hợp đồng hợp tác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Trụ sở: số 198 Trần Quang Khải phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Người đại diện theo pháp luật ông Phạm Quang Dũng – Chủ tịch HĐQT Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Tuyết – Giám đốc chi nhánh Tiền Giang. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: bà Nguyễn Nữ Thủy Vân –Phó trưởng phòng phụ trách phòng giao dịch Cai Lậy Địa chỉ: số 612 quốc lộ 1A, khu phố 1, phường 4, TX Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Giấy ủy quyền số 22/UQ-TGI-HCNS ngày 02 tháng 4 năm 2024. 2. Bị đơn: 2.1 Ông Lê Quốc Tuấn sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp Bình Khánh, xã Bình Phú, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang 2.2 Bà Nguyễn Thị Thanh Phương sinh năm 1979. Địa chỉ: 120/7 Mai Thị Lựu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho Người đại diện theo pháp luật ông Tạ Thanh Tâm – Chi cục trưởng Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thu Bình – Chấp hành viên, 3.2 Ông Nguyễn Hữu Hạnh sinh năm 1952. Địa chỉ: 343 xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hoàng Anh sinh năm 1981 Địa chỉ: 25/1 Đoàn Thị Nghiệp, phường 5, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. 3.3 Chị Nguyễn Thị Thái Hiền sinh năm 1979 Địa chỉ: 280/8 ấp 5, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger