|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/DS-ST Ngày: 14-6-2024 V/v: tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Hoà
- Bà Lưu Thị Thôi
* Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.
--------------------------------
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 371/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2024/QĐXXST-DS ngày 06/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 278/2024/QÐST-DS ngày 27/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1969
Bà Văn Thị Mỹ L, sinh năm 1977
Cùng địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1989
Địa chỉ: xóm C, khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên toà có mặt bà H, ông T; vắng mặt ông P, bà L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thu H, trình bày:
Do mối quen biết với người nhà của ông P và bà L từ trước nên vợ chồng ông Nguyễn Thành P, bà Văn Thị Mỹ L có mượn của bà số tiền 690.000.000 đồng để làm ăn. Tháng 12/2021 hai bên đã chốt số nợ này. Khi mượn tiền thì ông P, bà L tự nguyện giao ba Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà giữ cụ thể: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 441769, số AH 441771 và AH 441773 đều do UBND thành phố P cấp ngày 15/5/2017 đăng ký biến động ngày 03/10/2017 đứng tên ông P, bà L. Hai bên thoả thuận thời điểm trả số nợ trên là trước ngày 20/5/2022. Tuy nhiên cho tới thời điểm hiện nay thì bị đơn ông P, bà L vẫn chưa trả cho vợ chồng bà được đồng nào. Vào ngày 10/8/2022 bà L, ông P hẹn bà tại nhà bà N nói mượn lại 03 cuốn sổ đỏ trên để bán lấy tiền trả nợ cho bà nên bà đồng ý đưa lại 03 cuốn sổ đỏ cho vợ chồng ông P, bà L. Nay bị đơn ông P, bà L lấy cớ đã nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi nên không trả nợ cho bà nữa.
Số tiền bà cho vợ chồng ông P, bà L mượn là tiền chung của vợ chồng bà.
Nay bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông P, bà L trả cho vợ chồng bà số tiền 690.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền trên.
Tại phiên tòa, bà H yêu cầu bị đơn ông P, bà L trả số tiền gốc: 690.000.000 đồng cho vợ chồng bà và không yêu cầu tính tiền lãi.
* Bị đơn ông Nguyễn Thành P, bà Văn Thị Mỹ L có cư trú tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Tòa án có ban hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ đối với bà L, ông P các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình T trình bày: Ông T thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn bà H. Số tiền hiện nay bị đơn thiếu là tài sản chung của vợ chồng ông T, bà H. Do đó, ông T yêu cầu vợ chồng ông P, bà L phải trả cho ông T, bà H số tiền gốc 690.000.000 đồng và không yêu cầu tiền lãi phát sinh.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử (HĐXX) đã đảm bảo cho việc ra quyết định đúng pháp luật; về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho bà H, ông T số tiền gốc 690.000.000 đồng. Tiền lãi do đương sự không yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Thành P, bà Văn Thị Mỹ L cư trú tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[2] Tại phiên tòa, bị đơn ông P, bà L vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ pháp luật: Bà Trần Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thành P, bà Văn Thị Mỹ L trả cho vợ chồng bà số tiền nợ gốc là 690.000.000 đồng. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
[4] Về nội dung vụ án:
[4.1] Về số tiền nợ gốc: Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn ông P, bà L trả cho bà số tiền nợ gốc là 690.000.000 đồng. Nguyên đơn cung cấp 01 giấy văn bản thoả thuận về việc vay tài sản và giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề ngày 10/4/2022. Theo giấy mượn tiền nêu trên thì nguyên đơn bà H có cho ông P, bà L vay số tiền 690.000.000 đồng hẹn trước ngày 20/5/2022 sẽ trả nợ. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông P, bà L từ chối nhận các văn bản tố tụng của Toà án cũng như không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Nguyên đơn bà Trần Thị Thu H và ông Nguyễn Đình T khai số tiền bà H cho bà L, ông P vay là số tiền chung của vợ chồng bà H nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bà L, ông P phải trả cho vợ chồng bà H, ông T số tiền nợ gốc 690.000.000 đồng.
[4.2] Về tiền lãi: Trong hồ sơ khởi kiện bà H không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi suất. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 357, Điều 463, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật thi hành án dân sự.
2. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H như sau: Buộc ông Nguyễn Thành P, bà Văn Thị Mỹ L phải trả cho vợ chồng bà H, ông T số tiền nợ gốc: 690.000.000 đồng (Sáu trăm chín mươi triệu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3/ Về án phí: Bà Văn Thị Mỹ L, ông Nguyễn Thành P phải nộp 31.600.000 đồng (ba mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Trần Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Trần Thị Thu H số tiền 15.800.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019016 ngày 15/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
Quyền kháng cáo bản án của các đương sự là 15 ngày, đối với nguyên đơn bà Trần Thị Thu H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình Trung t từ ngày tuyên án 14/6/2024; đối với bị đơn bà Văn Thị Mỹ L, ông Nguyễn Thành P tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai tại UBND địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thái |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đỗ Văn Hoà Lưu Thị Thôi |
Phan Thị Thái |
Bản án số 59/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 59/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hương yêu cầu vợ chồng ông Phẩm, bà Linh trả nợ
