Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 14/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ma Quốc Thể.
  2. Ông Nguyễn Danh Long.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 14/6/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS, ngày 06/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 17/5/1987 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn G, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn V, sinh năm 1961 (đã chết); con bà: Hoàng Thị M, sinh năm 1961; vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1990, con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ 03;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 13/3/2024, Trần Văn T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển-số 22S1 - 040.93, màu sơn đỏ- đen (xe của Nguyễn Văn C, sinh năm 1988, trú tại thôn C, xã V, huyện S) đến khu vực huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, mục đích mua Heroine để sử dụng. T gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ được 01 gói Heroine gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng với số tiền 500.000 đồng. Thạch cất giấu trên người rồi điều khiển xe đi về nhà, T chia số Heroine trên thành 05 gói nhỏ khác nhau, bên trong cả 05 gói đều chứa chất bột vón cục màu trắng. Từ ngày 13/3/2024 đến ngày 15/3/2024 T đã sử dụng hết 03 gói Heroine bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Còn lại 02 gói Thạch cất giấu trên người, đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/3/2024 T điều khiển xe mô tô trên, mang theo 02 gói Heroine đi mua bơm kim tiêm để sử dụng, khi đến đoạn đường thuộc thôn Đ, xã V, huyện S thì gặp Tổ công tác Công an huyện S đang làm nhiệm vụ phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 13 giờ 45 phút cùng ngày. Thạch tự giác giao nộp 02 gói Heroine đang cất giấu trên nguời.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với T, kết quả (+) dương tính.

Tại Kết luận giám định số 445/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột thu giữ của Trần Văn T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D, có khối lượng 0,354g (Không phẩy ba năm bốn gam).

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSSD, ngày 04/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/3/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn T, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn T giám định ngày 15/3/2024".
  • Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A02S, màu trắng, trong máy điện thoại lắp sim số 0983.469.xxx, số EMEI1: 351864453650313/01, số EMEI2: 355795643650316/01 điện thoại cũ đã qua sử dụng, tình trạng máy không hoạt động. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 45 phút ngày 15/3/2024, tại đoạn đường thuộc thôn Đ, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Trần Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép 0,354g (Không phẩy ba năm tư) gam ma tuý loại Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát như vậy là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[4] Về vật chứng:

01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn T, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn T giám định ngày 15/3/2024”. Là vật chứng của vụ án và thuộc trường hợp nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A02S, màu trắng, trong máy điện thoại lắp sim số 0983.469.xxx, số EMEI1: 351864453650313/01, số EMEI2: 355795643650316/01 điện thoại cũ đã qua sử dụng, tình trạng máy không hoạt động là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

[5] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông, theo lời khai của T là người bán ma túy cho T tại khu vực huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với Nguyễn Văn C, khi cho T mượn xe mô tô không biết việc T đi mua ma tuý để sử dụng nên không đề cập xử lý.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Văn T, Công an huyện S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55 ngày 08/4/2024 phạt tiền 1.500.000 đồng.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/3/2024).

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn T, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn T giám định ngày 15/3/2024".

- Trả cho bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A02S, màu trắng, trong máy điện thoại lắp sim số 0983.469.xxx, số EMEI1: 351864453650313/01, số EMEI2: 355795643650316/01 điện thoại cũ đã qua sử dụng, tình trạng máy không hoạt động. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Vĩnh Lợi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ma Quốc Thể - Nguyễn Danh Long

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T.V.N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy loại heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger