Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 14-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Khánh

2. Bà Đoàn Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa:Bà Hoàng Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 77/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Xuân L. Tên thường gọi khác: Không, sinh ngày 10/7/1967, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K, sinh năm 1928 và con bà Lê Thị Đ (Chết); anh chị em ruột có 12 người, bị cáo là con thứ chín trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị Đ1; con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 09/01/2024, Lê Xuân L đi từ huyện Q về nhà, khi đi đến ngã ba Y thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. Lập rẽ vào chân cầu vượt ngã ba Y gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề lái xe ôm hỏi “Ở đây có ai bán ma túy hồng phiến không” thì người đó nói “có” thì L nói “Anh có mua được thì mua giúp em 300.000 đồng”. Người đàn ông đó nói “nếu đi mua thì phải trả công 50.000 đồng”, L đồng ý và lấy 350.000 đồng đưa cho người đó, khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho L 03 khúc ống nhựa màu vàng, hai đầu được bịt kín có đặc điểm giống nhau, bên trong mỗi khúc ống nhựa có chứa 02 viên ma túy hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, Lê Xuân L bỏ trong túi áo và đi về nhà. Đến 23 giờ cùng ngày, L lấy 01 khúc ống hút nhựa màu vàng, hai đầu được bịt kín bên trong khúc ống nhựa đó có chứa 02 viên ma túy hồng phiến. Khoảng 23 giờ 15 phút, khi L vừa sử dụng hết 02 viên hồng phiến thì Công an xã D phát hiện bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ ngay sát vị trí Lập đứng trong phòng khách 02 ống hút nhựa màu vàng, được bịt hai đầu có đặc điểm giống nhau, bên trong mỗi ống hút nhựa có 02 viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng và dẫn giải Lập về trụ sở Công an xã D để làm việc.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 09 giờ 40 phút ngày 10/01/2024 và Kết luận giám định số 152/KL-KTHS (Đ2- MT) ngày 13/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu viên nén màu hồng (ký kiệu M1 và M2) thu giữ của Lê Xuân L gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang của Lê Xuân L có tổng khối lượng là 0,4 gam.

Tại bản cáo trạng số: 84/CT-VKS-DC ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Lê Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”,quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Xuân L từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 0,2 gam ma túy Methamphetamine, là vật chứng còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định hết 0,2 gam thu của Lê Xuân L.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì; lời nói sau cùng của bị cáo sau khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 23 giờ 15 ngày 09/01/2024, tại nhà Lê Xuân L thuộc xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã D phát hiện bắt quả tang Lê Xuân L đang có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng là 0,4 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện, có tác hại xấu đến sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện và thái độ coi thường pháp luật, bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thờingăn ngừa tội phạm mới và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh điều kiện kinh tế đối với bị cáo và lời khai của bị cáo tại phiên tòa; thì bị cáo không có công việc, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án:

- Tổng khối lượng 0,4 gam ma túy Methamphetamine thu giữ của Lê Xuân L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã lấy 0,2 gam để đi giám định hết, còn lại 0,2 gam Methamphetamine, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[6]. Về nội dung liên quan khác: Đối với người đàn ông mua hộ ma túy cho Lê Xuân L (Theo lời khai của L), do không xác định được họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D không có căn cứ để điều tra, xử lý, khi nào xác minh rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Xuân L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2024.

3.Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định, trên mép dán có chữ ký cán bộ tham gia cùng đối tượng Lê Xuân L và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An, bên trong có 01(Một) viên nén màu hồng là ma túy Methamphetaminne có khối lượng 0,1 gam (Không phẩy một gam), ký hiệu M1; 01 (Một) viên ném màu hồng là ma túy Methamphetaminne có khối lượng 0,1 gam (Không phẩy một gam), ký hiệu M2 là vật chứng thu giữ của Lê Văn L1 sau khi đã lấy mẫu giám định; 02 (Hai) khúc ống hút nhựa màu vàng và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu. (Vật chứng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 16/04024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).

4.Về án phí: Bị cáo Lê Xuân L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger