|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 13/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Yêu.
2. Ông Đỗ Đình Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST - HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn P, sinh năm 1986 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lù Văn B – sinh năm: 1957 và bà Lò Thị E – sinh năm: 1958; Vợ: Lò Thị Q - sinh năm 1988; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 06/01/2024, đến ngày 15/01/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị Q - sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản H, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Lò Văn H - sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản H, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo lời khai của Lù Văn P: Vào khoảng 13 giờ ngày 06/01/2024 khi P đang ở nhà thì Lò Văn H sang nhà P mượn xe mô tô để đi mua hoa quả làm đám cưới, P đồng ý. Mượn xe xong H rủ P đi cùng ra thị trấn T, P đồng ý. Sau đó H điều khiển xe mô tô của Phớ biển kiểm soát: 25U1- 072.68, nhãn hiệu HONDA chở P cùng đi ra chợ T để đặt mua hoa quả. Khi mua hoa quả xong Hưởng rủ P đi mua Heroin để sử dụng, P đồng ý rồi P chỉ đường cho H điều khiển xe mô tô chở P đi lên bản H, thị trấn T để tìm mua Heroin. Khi đi được một đoạn P nói với H là không có tiền nên H đưa cho P 200.000 đồng để P mua Heroin. Tại bản H, thị trấn T Hưởng đợi bên ngoài còn P đi bộ vào trong bản, qua trao đổi P hỏi và mua được của một người đàn ông tên “Xuân” 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng với số tiền 200.000 đồng do H đưa. Sau khi mua được H1, P cất giấu trong lòng bàn tay trái rồi đi ra chỗ H đứng đợi và nói “được rồi, về đi”. Sau đó H điều khiển xe mô tô chở P đi về nhà, đến 14 giờ cùng ngày khi P và H về đến bản Nà Ban, xã T, huyện T thì bị Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện T đang đi làm nhiệm vụ kiểm tra. Khi thấy Công an, do lo sợ bị phát hiện nên P thả gói Heroin đang cầm ở tay trái ra thì gói H1 rơi vào trong túi quần bên trái Phớ đang mặc sau đó Lù Văn P bị công an kiểm tra, phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng là 0,19 gam, mục đích để sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành lấy lời khai và đối chất giữa P và H nhưng Lò Văn H khai H chỉ rủ P đi cùng ra thị trấn T để mua hoa quả, sau đó H được P rủ đi chơi ở bản H, thị trấn T. Tại bản Hua Pầu P bảo H dừng xe đợi rồi P đi đâu không rõ. Sau đó P quay lại bảo H điều khiển xe mô tô chở về, H không rủ, không đưa tiền hay góp tiền với P để mua Heroin, việc P đi mua và tàng trữ H1 thì H không biết.
Ngày 06/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 11/KL-TCGĐ ngày 06/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lù Văn P có khối lượng là 0,19 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích 0,14 gam trong tổng số 0,19 gam chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn P theo P khai nhận là H1 gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 144/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS-TU, ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lù Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lù Văn P từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 0,05 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25U1- 072.68, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX FI, màu sơn xám, đen và trả lại cho chị Lò Thị Q ½ giá trị của chiếc xe mô tô trên.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị Q vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra chị Q trình bày chiếc xe mô tô bị thu giữ là tài sản chung của vợ chồng chị, việc bị cáo P sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội thì chị không biết, chị Q có nguyện vọng xin lại chiếc xe mô tô trên để phục vụ việc đi lại của gia đình.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 14 giờ, ngày 06/01/2024 tại bản Nà Ban, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lù Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,19 gam được gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lù Văn P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lù Văn P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm ruộng thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 0,05 gam Heroin còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25U1- 072.68, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX FI, màu sơn xám, đen; số khung: RLHJA384XNY152242, số máy: JA52E0475609, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của chị Lò Thị Q và bị cáo Lù Văn P, việc bị cáo P dùng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chị Q không biết, tuy nhiên chiếc xe mô tô trên là phương tiện bị cáo P dùng vào việc phạm tội nên xét thấy cần tịch thu toàn bộ chiếc xe mô tô trên để hóa giá sung quỹ Nhà nước, không chấp nhận đề nghị xin trả lại xe của chị Lò Thị Q và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc trả lại ½ giá trị chiếc xe trên cho chị Lò Thị Q.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc 0,19 gam Heroin, Lù Văn P khai do P mua của một người đàn ông tên “X” không rõ lai lịch tại bản Hua Pầu, thị trấn T, huyện T. Quá trình điều tra, không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lò Văn H là người đi cùng Lù Văn P, quá trình lấy lời khai, đối chất tại cơ quan điều tra H khai chỉ được P rủ đi chơi ở bản H, thị trấn T, huyện T. Hưởng không rủ và không đưa tiền hay góp tiền với P để mua Heroin, việc P đi mua và tàng trữ H1 thì H không biết. Ngoài lời khai duy nhất của Lù Văn P không còn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để xử lý đối với Lò Văn H.
Đối với chị Lò Thị Q là vợ bị cáo Lù Văn P đồng thời là chủ sở hữu chung đối với chiếc xe mô tô do Lù Văn P đi mua Heroin. Việc P dùng chiếc xe này đi mua và tàng trữ Heroin thì chị Q không biết, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Lò Thị Q là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lù Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lù Văn P 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 0,05 gam Heroin; 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Vật chứng được niêm phong theo đúng quy định.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 25U1- 072.68, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX FI, màu sơn xám, đen; số khung: RLHJA384XNY152242, số máy: JA52E0475609, xe cũ đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 15 phút, ngày 03/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lù Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
