Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 7 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt; ông Nguyễn Văn Thục

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 15/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 01/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang U (tên gọi khác Nguyễn Quang M), sinh năm 1968, tại tỉnh Bắc Ninh.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1927 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); vợ là Lê Thị L, sinh năm 1968, có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1991; chung sống như vợ chồng với bà Trương Thị T1, sinh năm 1977, có 01 con, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn H, xa L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N1, T, Bắc Giang. (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1973, địa chỉ: Số nhà B, đường N, khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)

1

3. Ông Phạm Tiến N, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)

4. Chị Đoàn Thị H1, sinh năm 1989, địa chỉ: Số C, đường H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)

5. Chị Nguyễn Thị Thu Đ, sinh năm 1984, địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ tháng 7/2008 đến tháng 8/2008, Nguyễn Đình T2 và Nguyễn Văn T3 nhiều lần mua tiền giả rồi cùng một số đối tượng đi tiêu thụ tiền giả. Nguyễn Đình T2 06 lần vượt biên sang Trung Quốc mua tổng số 246.000.000 đồng tiền giả đem về Việt Nam tiêu thụ, bán tiền giả cho nhiều đối tượng khác nhau, trong đó 04 lần bán tổng số 15,5 triệu đồng tiền giả cho Nguyễn Quang U, cụ thể như sau:

Lần 1: Do biết T3, T2 có bán tiền giả nên khoảng tháng 7/2008 U rủ Phạm Tiến N, sinh năm 1970 trú tại thôn X, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đến gặp T3 với mục đích đòi số tiền 01 triệu đồng Tuyên nợ trước đó, nếu không đòi được tiền thì U sẽ lấy tiền giả của T3. Uyển và Năm đến gặp T3 tại một nhà nghỉ ở khu vực H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, U gặp T2, T3 và H1, U bảo T3 trả tiền, T3 nói không có tiền và đưa cho U 05 tờ tiền polyme giả mệnh giá 500.000 đồng (tổng cộng 2.500.000 đồng) và nói đổi số tiền thật T3 nợ lấy tiền giả với giá là 50%, do T3 nợ tiền đã lâu nên T3 cho U thâm 500.000 đồng tiền giả. Sau khi nhận tiền giả của T3, U đem đi chuộc xe mô tô cho Năm và đánh bạc trên thuyền ở khu vực Cầu H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh hết. Do thời gian đã lâu, nên U không nhớ những người đánh bạc với U là ai, ở đâu.

Lần 2: Sau lần thứ nhất khoảng mấy ngày, do cần tiền để đi đánh bạc nên Uyển mua của T3 và T2 6.000.000 đồng tiền giả. T3, T2 đồng ý bán cho U với giá 50% (tức là hết 03 triệu đồng tiền thật) và bảo U đến nhà nghỉ T4 ở khu H, thành phố B để giao dịch, mua bán. Khi đến nơi, U gặp T2, T3, H1 và một người phụ nữ thường gọi là C ở đó. Uyển được T3, T2 đưa cho 04 triệu đồng tiền polyme giả mệnh giá 200.000 đồng và 02 triệu đồng tiền polyme giả mệnh giá 500.000 đồng. U cầm số tiền giả mua được, cất vào trong tất chân và bảo T2, T3 cho nợ tiền mua tiền giả. Sau đó một hai hôm, U gặp T2 tại khu vực Cầu H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, U xin T2 bột 100.000 đồng và đưa trả T2 2,9 triệu đồng (số tiền mua tiền giả). Toàn bộ số tiền giả mua được, U tiếp tục đem đến khu vực cầu H, huyện T đánh bạc hết.

2

Lần 3: Sau lần thứ 2 khoảng mấy ngày, U tiếp tục mua của T3, T2 4.000.000 đồng tiền polyme giả mệnh giá 200.000 đồng với giá 50% và đánh bạc thua hết.

Lần 4: Khoảng đầu tháng 8/2008, U tiếp tục mua của T3, T2 3.000.000 đồng tiền polyme giả mệnh giá 200.000 đồng với giá 50% và đánh bạc thua hết.

Nguyễn Đình T2, Nguyễn Văn T3 và một số đối tượng khác, cùng các đồ vật, tài sản đã bị xét xử, giải quyết tại Bản án số 38/2009/HSST ngày 17/7/2009 của TAND tỉnh Bắc Giang. Khi biết T3, T2 bị bắt giữ về hành vi lưu hành tiền giả, U đã bỏ trốn vào phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai sinh sống. Ngày 23/02/2024, U bị Cơ quan ANĐT Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường L bắt giữ. Thu giữ của U 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12.

Đối với số tiền 15,5 triệu đồng tiền giả, U khai đã sử dụng để chuộc xe mô tô và đánh bạc thua hết, U không nhớ người nhận cầm cố xe và những người tham gia đánh bạc cùng với U là ai, ở đâu, do vậy Cơ quan điều tra không thu hồi được số tiền giả này và không đủ căn cứ xem xét xử lý Uyển về hành vi đánh bạc.

Về số vật chứng đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12 tạm giữ của U, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quang U (tên gọi khác Nguyễn Quang M) đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSBG-P1 ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố Nguyễn Quang U (tên gọi khác Nguyễn Quang M) về tội “Lưu hành tiền giả”, theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, bị cáo U đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì.

Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2,4 Điều 180, Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang U từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”, thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước; Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3

Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật và rất hối hận, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự .

[3] Xét về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 7/2008 đến tháng 8/2008, Nguyễn Quang U đã 04 lần lưu hành tiền giả với tổng số tiền 15.500.000 đồng, loại tiền polime giả.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lưu hành tiền giả” quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế nói chung và quản lý của nhà nước trong lĩnh vực quản lý tiền tệ

4

nói riêng, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Sau khi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn, bị truy nã nhiều năm, gây khó khăn trong quá trình điều tra. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

  • Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị 04 lần lưu hành tiền giả nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có bố đẻ là Nguyễn Quang T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội như trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Không chỉ giúp giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật mà còn răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội này trong xã hội. Tuy nhiên, căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo. Việc xử phạt bị cáo với mức hình phạt như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

[6] Các vấn đề khác:

  • Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra năm 2008, do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 để áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
  • Đối với số tiền 15.500.000 đồng tiền giả, bị cáo đã sử dụng để đi chuộc xe môtô và đánh bạc thua hết, bị cáo không nhớ tên tuổi của người cầm cố xe và đánh bạc ở đâu, do vậy cơ quan điều tra không thu hồi được số tiền giả trên và không đủ căn cứ xem xét xử lý đối với bị cáo về hành vi đánh bạc, do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.
  • Đối với hành vi phạm tội của Nguyễn Đình T2, Nguyễn Văn T3 và một số đối tượng khác, cùng các đồ vật, tài sản đã được xét xử và giải quyết tại bản án số

5

38/HSST ngày 17/7/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

  • Hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 180 của Bộ luật Hình sự năm 1999 để sung ngân sách nhà nước.
  • Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 của bị cáo U không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7]. Từ những phân tích đánh giá như trên, Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 180 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang U (tên gọi khác Nguyễn Quang M) 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lưu hành tiền giả”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024.
  2. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
  3. Vật chứng của vụ án: Trả lại bị cáo Nguyễn Quang U 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A12, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  4. (Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKS-P1 ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang).

6

  1. Án phí: Bị cáo Nguyễn Quang U (tên gọi khác Nguyễn Quang M) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
  3. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BG;
  • - Bị cáo;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngọ Thị Thanh Hảo

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lưu hành tiền giả

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lưu hành tiền giả
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo U phạm tội lưu hành tiền giả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger